$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ ba, 06-02-2018 | 10:29GMT+7

Cách mạng 4.0 - Những cơ hội và thách thức đối với làng nghề

TBV - Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế, với cuộc Cách mạng 4.0 là cuộc cách mạng đánh dấu những thành quả của khoa học kỹ thuật, cuộc cách mạng này đã tác động lên mọi mặt lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, giáo dục… của xã hội. Đây thực sự là cuộc cách mạng có quy mô lớn trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng 4.0 không chỉ làm thay đổi về mặt phát triển của khoa học kỹ thuật, mà tác động thay đổi cả tư duy của con người trong mọi lĩnh vực. Thành quả của cuộc cách mạng 4.0 đã được rất nhiều các Hội thảo khoa học, nhà nghiên cứu, các tổng kết đánh giá cao tác động tích cực.
Theo Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cả nước hiện có 5.411 làng nghề và làng có nghề trong đó có 1.864 làng nghề, làng nghề truyền thống và 115 nghề truyền thống đã được công nhận. Đây là lợi thế rất lớn trong việc xuất khẩu các mặt hàng TCMN nhiều tiềm năng này. Để phát triển và gìn giữ nghề truyền thống, nhất là một số nghề đang có nguy cơ mai một hoặc không giữ được thương hiệu vốn có và bị đánh cắp thương hiệu…Nhiều cấp Nhà nước với các doanh nghiệp với nhiều giải pháp nhằm gìn giữ và phát triển làng nghề truyền thống và ản phẩm TCMN độc đáo mang tinh thần Việt. Một trong những giải pháp khá hữu hiệu là việc đầu tư công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hàng loạt máy móc, thiết bị công nghiệp đáp ứng nhu cầu sản xuất trong xu thế hội nhập quốc tế, phù hợp với quy luật phát triển chung của công cuộc cách mạng 4.0 trên toàn thế giới. 

Có thể nói sản phẩm  TCMN không chỉ giải quyết các vấn đề cuộc sống của con người bản địa mà còn là mặt hàng kinh tế góp phần kim ngạch phát triển đất nước. Vì vậy, trách nghiệm đê thúc đẩy sản phẩm TCMN xứng tầm với những gì truyền thống tạo nên bản sắc văn hóa, nhưng cũng là những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu, mà trong đó việc thiết kế mẫu mã, kiểu dáng và quảng bá thương hiệu TCMN luôn là đề tài của nhiều cuộc Hội thảo, dự án của nhiều chính sách hỗ trợ, nhiều khi là sự quyết định quan trọng trong hưng thịnh của doanh nghiệp TCMN, là niềm vinh danh cho các nghệ nhân chế tác ra sản phẩm…tới nay, để phát triển các ngành nghề TCMN bên cạnh việc sản xuất theo cách thức, quy trình và kỹ thuật truyền thống, nhiều ngành nghề đã được đầu tư hiện đại hóa nhằm nâng cao năng suất lao động, đáp ứng được nhu cầu thị trường, làm cơ cấu kinh tế của các làng nghề thay đổi nhiều về diện mạo cảnh quan, cách tư duy, suy nghĩ, hướng phát triển về nghề nghiệp…
 

PGS.TS Đặng Mai Anh- Phó Hiệu trưởng phụ trách, Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội
 

Việc áp dụng phương thức sản xuất, hỗ trợ phần nào đã giúp các cơ sở sản xuất TCMN với tính chất sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu vượt qua thời kỳ khó khăn, ổn định sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hóa, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo việc làm cho nhiều lao động, nâng cao năng suất chất lượng, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế…Với sự hỗ trợ thiết bị và phương thức sản xuất hiện đại trong các công đoạn sản xuất bằng các loại máy móc khác nhau, bằng vi tính điều khiển từ các khâu thiết kế mẫu mã tới điều hành các quy trình sản xuất và kiểm tra từng khâu trong chế tác sẽ sản xuất nhanh và số lượng đồng bộ sản phẩm lớn hơn hiệu quả kinh tế đem đến giảm giá thành sản phẩm. mẫu mã làm ra đạt độ chính xác cao, đẹp hơn sử dụng bằng thủ công, tăng tính cạnh tranh…góp phần tăng thu nhập cao hơn. Trong nhiều mặt hàng TCMN nhiều công đoạn tạo ra sản phẩm thực sự chưa cần hoặc chưa phải là khâu kết thúc hoàn thiện sản phẩm nên sự đòi hỏi tinh xảo, chưa cần dấu ấn của người thợ thì việc nhờ thiết bị máy móc công nghiệp là sự cần thiết và tất yếu. 

Một lợi thế của áp dụng khoa học công nghệ ngày nay, là những thành quả của cuộc khoa học kỹ thuật đã đem lại nhiều nguồn nguyên vật liệu mới dần thay thế một số nguyên liệu truyền thống đang cạn kiệt, hoặc ưu việt hơn vật liệu truyền thống. Đồng thời, áp dụng công nghệ cũng hỗ trợ quá trình pha chế, xử lý nguyên liệu, do đó góp phần tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh. 

Từ việc áp dụng công nghệ, máy móc, công nghệ sản xuất vào sản xuất, nhiều làng nghề đang khẳng định được hiệu quả kinh tế, nhưng hiệu quả to lớn là góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển hiệu quả bền vững. Từng có những thành công trong đổi mới công nghệ làng nghề. Một điển hình là làng Gốm Bát Tràng (huyện Gia Lâm, Hà Nội). Hiện tại tất cả các cơ sở sản xuất gốm Bát Tràng đã chuyển từ lò than sang lò gas, nhiều cơ sở chỉ giữa lò than phục vụ nhu cầu thăm quan của du khách. Đổi mới công nghệ khiến cho môi trường làng nghề giảm ô nhiễm. Bên cạnh đó, dùng lò gas giúp cho người thợ hoàn toàn chủ động về điều chỉnh nhiệt độ, qua đó, cho ra đời những sản phẩm ứng ý., ít bị lỗi, nâng cao năng suất. Hay ở làng nghề đục chạm gỗ ở Vân Hà, Sơn Đồng cũng vậy, việc sử dụng những thiết bị CNC của những công đoạn đầu giúp cho người thợ phá sơ những cơ bản sơ của sản phẩm giúp đỡ nhân công, tạo độ chính xác và đồng đều hơn. Ở nghề dệt lụa Vạn Phúc cũng khởi sắc, do tiếng máy dệt công nghiệp góp phần tăng năng suất và chất lượng của sản phẩm dệt. Các nghề mây tre đan sử dụng các loại máy tuốt mây tre tạo độ dẻo, đồng bộ của sợi mây. Làng nghề Hạ Thái là một làng nghề truyền thống sơn mài trong truyền thống sử dụng sơn ta đã nhanh chóng sử dụng sơn Nhật và các loại sơn công nghiệp khác nhau. Việc dùng sơn Nhật cho sản phẩm đem lại hiệu quả tức thì: Sản phẩm nhanh khô, dễ xử lý và có giá thành thấp hơn ba đến bốn lần so với sản phẩm làm bằng sơn ta. Vì thế mặt hàng sơn mài Hạ Thái bán khá chạy. Nhưng đó mới là một nửa của vấn đề. Sản phẩm sơn mài làm từ sơn là một đặc trưng riêng của văn hóa Việt Nam. Độ bền của sản phẩm này lên tới vài trăm năm. Đổi mới bằng việc dùng sơn Nhật, các loại sơn công nghiệp đem lại cái lợi trước mắt…Nhưng để nói về giá trị truyền thống và đặc sắc là vấn đề còn nhiều ý kiến trái chiều nhau.

Khi xu thế giao lưu thương mại mang tính toàn cầu hóa, việc giao thoa và tiếp biến văn hóa, khoa học kỹ thuật…cùng bối cảnh kinh tế tính cạnh tranh cao thì việc ứng dụng khoa học công nghệ mới có ý nghĩa quyết định, có tác động trực tiếp tới mỗi ngành nghề, đặc biệt các ngành nghề sản xuất ra các sản phẩm vạt thể, trong đó sản phẩm TCMN cũng vậy cần sự bảo đảm và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi sự cung cấp thường xuyên trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Nhận thức được điều đó, nhiều làng nghề TCMN đã áp dụng việc áp dụng kỹ thuật và đổi mới công nghệ, cải tiến phương pháp sản xuất để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm tạo ra sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho ngành. Sự phát triển lan tỏa của làng nghề truyền thống đã mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động. Cho đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với  quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Sự sáng tạo và độc đáo trong mỗi sản phẩm TCMN truyền thống đều mang tính cá biệt và có sắc thái riêng của mỗi làng nghề. Chính điều này, đánh dấu tính đơn chiếc và kỹ thuật riêng và tính truyền nghề độc đáo trong quá trình tạo thành sản phẩm của người tạo ra sản phẩm, nhưng sự tham gia của phương tiện máy công nghiệp là sự hỗ trợ đắc lực, tạo nên sản phẩm đẹp hơn chứ không làm mất đi sự độc đáo - nhưng sản phẩm sẽ không thể mang tính độc bản độc, tính dân gian của người thợ chế tác, nên cũng là vấn đề trong thách thức khi đưa công nghiệp hóa vào “sản xuất” sản phẩm TCMN.
Sản phẩm thủ công, đây là yếu tố đặc sắc, được cảm nhận tính thủ công ngay từ tên gọi của sản phẩm TCMN. Tính thủ công thể hiện ở công nghệ sản xuất, các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo và sáng tạo nghệ thuật. chính đặc tính này tạo nên sự khác biệt giữa sản phẩm TCMN với sản phẩm công nghiệp được sản xuất hàng loạt, nhưng nếu việc ứng dụng phần nào để cảm nhận tính thủ công vẫn nổi bật, tiết chế sự tham gia từng công đoạn sản xuất bằng máy để sản phẩm vẫn giữ được tính thủ công độc đáo. 

Điều kiện khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại các làng nghề, khi nghiên cứu với tư cách là sản phẩm công nghiệp nông thôn, tức việc đồng bộ công nghiệp hóa các ngành nghề thủ công cổ truyền ở tất cả các làng nghề. Tức một mặt phải xác lập và đặt nó vào thời kỳ công nghiệp hóa nhà nước để thấy rõ vaii trò, vị trí, tầm quan trọng của TCMN trong việc tổ chức sản xuất, khai thác nguồn nhân lực tại chỗ để phát triển kinh tế. mặt khác cần phải nêu xu thế của làng nghề và sản phẩm TCMN việc bảo tồn văn hóa và hội nhập.  đồng thời, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống của người dân tại các làng nghề. Vì vậy, cần có nhiều các cấp từ Chính Phủ, Bộ, Ngành, các cấp địa phương và chính các làng nghề, người làm nghề cùng có những chính sách, phát huy đúng từng vai trò để thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến mỗi làng nghề thật đúng hướng và giữ được bản sắc của sản phẩm TCMN. 

Trong xu thế tất yếu của toàn cầu hóa và trong bước chuyển mình lớn lao của thời đại mới, với mục tiêu phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã từng bước vươn ra thế giới, đưa nhiều mặt hàng chất lượng cao của đất nước mình đến với người tiêu dùng quốc tế. hàng TCMN Việt Nam với nét đặc sắc, tinh xảo, hoàn mỹ được tạo nên từ bàn tay tài hoa của hàng vạn lao động ở các làng nghề nổi tiếng, cũng theo xu thế chung đó mà trở thành mặt hàng kinh doanh mang lại lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp và là ngành hàng xuất khẩu tiềm năng được ưa chuộng trên toàn thế giới. 
PGS.TS Đặng Mai Anh
Phó Hiệu trưởng phụ trách, Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội