$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ năm, 19-07-2018 | 17:40GMT+7

Đồng Tháp: Ghé thăm làng nghề làm thớt xã Định An

TBV - Dọc theo quốc lộ 54 theo con sông Hậu là khung cảnh xanh mát, yên bình của cuộc sống vùng quê Nam bộ. Nơi đây có làng nghề làm thớt ở xã Định An, huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) “cha truyền con nối” tính đến nay cũng hơn 60 năm.
Ghé thăm làng vào một ngày hè nắng gắt, chúng tôi nhìn thấy được hình ảnh từng tấm thớt tròn được người dân phơi ngay ngắn đầy cả sân trông rất đặc trưng nhưng không kém phần thú vị.

Được biết, từ xa xưa, người dân ở xã Định An, huyện Lấp Vò thường chở hàng bằng ghe xuồng đến các tỉnh ở xa bán và khi trở về thì mua lá, mua cây mù u để làm nhà và các vật dụng trong gia đình. Mù u là loại gỗ mọc hoang ven sông nhưng rất chắc. Phần gỗ thừa sau khi làm nhà, người dân bèn cưa ra làm thớt để bán. 

Theo đánh giá của những người “trong nghề”, gỗ mù u thích hợp để làm thớt vì gỗ chắc, không bị băm nát và lưu lại vết đen khi sử dụng. Từ đó, tiếng lành đồn xa Định An dần dà hình thành nên làng nghề truyền thống làm thớt cho đến ngày hôm nay.
 

Tại đây, chúng tôi được tận mắt theo dõi quá trình làm ra một chiếc thớt, âm thanh ồn ào, nhộn nhịp của tiếng cưa, tiếng đục, tiếng máy… rồi người kéo xe, kẻ phơi thớt…có thế mới thấy được sự công phu và khéo léo của người dân nơi đây. Nguyên liệu ban đầu là những thân gỗ to, sau đó người thợ phải phân đoạn, cắt thớt, lấy mực, ra vóc, đẽo, gọt láng, bào mặt... Tưởng đơn giản nhưng công việc này khá cực nhọc và không thể làm đơn lẻ, cụ thể mỗi người thợ phụ trách một công đoạn khác nhau. Công việc cứ vậy chuyền tay nhau mà làm đến khi thành phẩm, thế nên tại làng nghề thớt Định An, nhiều gia đình thường tụ họp ra khoảng sân trước nhà hay một cái xưởng nhỏ để làm việc, góp phần thắt chặt thêm tình làng nghĩa xóm. 

Trao đổi với ông Nguyễn Thanh Tâm ở ấp An Hoà, xã Định An, người gắn bó với nghề độ gần 50 năm, ông chia sẻ: “Để có được một tấm thớt tốt phải chọn loại gỗ già, sau đó đem sấy cho hết nhựa mới mang ra xẻ thành từng miếng rồi phơi nắng để không bị mốc. Ngoài ra, người thợ phải cắt, gọt sao cho độ dày, tròn và độ rộng của thớt hợp lý để hạn chế thớt vỡ trong quá trình sử dụng. Ở công đoạn gọt láng, nếu muốn thớt đẹp thì người thợ luôn phải dùng tay, không thể dùng máy thay thế.”
 

Ngày nay, do việc tìm nguyên liệu khó khăn nên những loại cây như: xoài, me, xà cừ, gừa, gỗ còng…cũng được đưa vào “danh mục” để làm thớt. Nếu có đủ nguyên liệu, năng suất của mỗi gia đình có thể cung cấp ra thị trường gần 200 thớt một ngày. Vào những lúc “cao điểm”, sản phẩm tiêu thụ mạnh, mỗi ngày làng nghề có thể xuất bán khoảng 1.000 tấm thớt đủ loại để chuyên chở đi khắp các tỉnh, thành trong cả nước, nhất là vào dịp cuối năm, đón tết Nguyên đán. 

“Nhiều lúc mất ba, bốn ngày lặn lội khắp các tỉnh miền tây cũng chỉ mua được vài cây gỗ để làm thớt nhưng mình vẫn không nản lòng bởi đây là nghề truyền thống cha ông đã để lại, đồng thời chính nó cũng là nguồn thu nhập chính, nuôi sống cả gia đình trong nhiều năm qua. Sau khi trừ chi phí, mỗi ngày cả gia đình gồm 03 lao động cũng kiếm được khoảng 400.000 đồng, những ngày gần tết thì có tăng chút đỉnh nên cũng đủ trang trải và mua sắm ít vật dụng đón tết...”, ông Trần Văn Mới, một người dân làng nghề cho biết.

Những tiếng cười nói, những đôi bàn tay lao động thoăn thoắt trong ngày hè nắng gắt hay thời tiết âm u dường như xua tan đi sự cực nhọc, những giọt mồ hôi lăn trên gương mặt người dân làng nghề làm thớt. Có thể nói, nghề này đã in sâu vào máu thịt của người dân nơi đây cùng một nghị lực và quyết tâm sống với nghề không ngơi nghỉ. 
Bài và ảnh: Nguyễn Quỳnh