$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ hai, 18-06-2018 | 09:19GMT+7

Hiệp hội Làng nghề Việt Nam: Tổng kết công tác nhiệm kỳ III (2012-2017) và phương hướng công tác nhiệm kỳ IV (2018 - 2022)

TBV - Hiệp hội Làng nghề Việt Nam (HHLNVN) được thành lập ngày 03/02/2005, đến nay hoạt động được 13 năm. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hiện nay cả nước có 5.411 làng nghề và làng có nghề (trong đó có 1.864 làng nghề truyền thống với 115 nghề truyền thống đã được công nhận) thu hút khoảng 11 triệu lao động.
Trong năm 2017, ngành hàng Thủ công mỹ nghệ (TCMN) đã có 2000 doanh nghiệp và cơ sở tham gia xuất khẩu đạt kim ngạch tới 2 tỷ USD. 

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII với các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho giai đoạn 2016-2020, HHLNVN đã xác định đúng vai trò, trách nhiệm của tổ chức để nỗ lực phấn đấu và đạt được những kết quả quan trọng trong việc thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu toàn quốc HHLNVN lần thứ III đã đề ra. 

Kết quả công tác nhiệm kỳ III

I. Một số kết quả đạt được

1. Công tác xây dựng và phát triển tổ chức: Cho đến nay HHLNVN đã có 13.113 hội viên. Trong đó riêng trong nhiệm kỳ III đã kết nạp được 443 hội viên mới ở 34 tỉnh, thành phố. 

Hiện bộ máy tổ chức của Hiệp hội bao gồm: Văn phòng cơ quan trung ương tại Hà Nội và 5 văn phòng đại diện tại: TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và chuẩn bị ra mắt văn phòng đại diện tại Cần Thơ; 9 Ban chuyên môn; 15 Trung tâm; Báo Thời báo Làng nghề Việt; Các tổ chức chính trị - xã hội như Chi bộ Đảng, Chi đoàn Thanh niên, Công đoàn trong cơ quan Hiệp hội được thành lập và củng cố hoạt động.

2. Công tác xúc tiến thương mại: Đã chủ động phối hợp với các Bộ, ban ngành ở Trung ương và các địa phương để tổ chức gần 300 sự kiện như: hội chợ, triển lãm, trưng bày sản phẩm, liên hoan văn hóa du lịch, hội thảo chuyên đề, hội nghị khách hàng, kết nối cung cầu giữa các làng nghề; Nâng cao khả năng thiết kế, cải tiến mẫu mã sản phẩm thủ công, tiếp cận với khách hàng;  Phát triển làng nghề theo hướng du lịch làng nghề; Nâng cao khả năng hội nhập quốc tế cho các hội viên.

3. Công tác khoa học công nghệ và đào tạo: Chủ động tham gia phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước tổ chức 289 lớp đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các làng nghề với 10.143 học viên; Tổ chức nhiều khóa tập huấn về ứng dụng Công nghệ thông tin và Thương mại điện tử.
 

Ông Lưu Duy Dần - Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam

Tham gia góp ý xây dựng dự án cải thiện môi trường giai đoạn 2012-2015 và kế hoạch thực hiện Đề án tổng thể Bảo vệ Môi trường làng nghề đến năm 2020 định hướng đến năm 2030. 
Đã xây dựng và tổng kết được 03 mô hình đào tạo có hiệu quả cao, đó là:  Cấy nghề (đào tạo nghề mới); Đào tạo nghề gắn với vùng nguyên liệu; Đào tạo nguồn nhân lực phát triển sản xuất làng nghề.  Đến nay, các mô hình này đang tiếp tục được triển khai tại các địa phương.

4. Hoạt động đối ngoại: Đã cố gắng tổ chức phối hợp với nhiều tổ chức thực hiện các đoàn triển lãm, hội chợ, khảo sát, làm việc, ký biên bản ghi nhớ hợp tác tại Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, một số nước thuộc EU, ASEAN… đồng thời đón tiếp và làm việc với nhiều đoàn khách quốc tế đến tìm hiểu, làm việc và khảo sát trực tiếp tại một số làng nghề để giới thiệu sản phẩm và đặt quan hệ hợp tác. Đã làm việc với đoàn đại diện thương nhân người Việt tại Hoa Kỳ và đang xúc tiến các công việc để giới thiệu và đưa sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam vào thị trường này.

5. Công tác truyền thông: Phát huy được thế mạnh của hội viên nên trong điều kiện cơ sở vật chất còn rất hạn chế mà HHLNVN đã phát hành báo Thời báo Làng nghề Việt (gồm báo in và trang thông tin điện tử: thoibaovietlangnghe.com.vn) và 01 cổng thông tin điện tử (website) www.hiephoilangnghevietnam.com. Tờ Thời báo Làng nghề Việt đã hoạt động theo đúng tôn chỉ mục đích và không mắc những sai phạm về chính trị. Lãnh đạo Hiệp hội thường xuyên trả lời phỏng vấn báo chí, truyền hình về nhiều vấn đề liên quan đến mọi mặt đời sống sản xuất ở các làng nghề trong cả nước. 

6. Công tác tôn vinh, khen thưởng: Đã tổ chức 7 lần phong tặng các danh hiệu làng nghề, trong đó: đã phong tặng 490 nghệ nhân làng nghề, 59 làng nghề tiêu biểu;... doanh nghiệp làng nghề tiêu biểu;... sản phẩm làng nghề tiêu biểu; đã phong tặng 89 “Bảng vàng gia tộc nghề truyền thống” cho 25 dòng họ ở 21 tỉnh thành. 

Từ năm 2010 đến năm 2016, Nhà nước đã tiến hành 3 lần phong tặng nghệ nhân quốc gia, có 17 Nghệ nhân Nhân dân, 100 Nghệ nhân Ưu tú; trong đó, Hiệp hội đã giới thiệu và bảo vệ ứng viên trong việc công nhận nghệ nhân quốc gia với kết quả 14 Nghệ nhân Nhân dân, 63 Nghệ nhân Ưu tú là thành viên của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam.

7. Công tác phản biện xã hội: Đã tổ chức tham gia góp ý xây dựng Hiến pháp 2012; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; dự thảo sửa đổi Nghị định 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Luật Bảo vệ Môi trường; Nghị định sửa đổi, bổ sung về quy định phong tặng nghệ nhân Quốc gia; Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ; Báo cáo hiện trạng Môi trường Quốc gia giai đoạn 2011- 2015...

Phối hợp với Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức Tọa đàm “Làng nghề Việt Nam: Truyền thống, thực trạng và giải pháp phát triển trong thời kỳ hội nhập” đạt kết quả.

8. Công tác xã hội: Đã tích cực tham gia các hoạt động “Đền ơn, đáp nghĩa”; dâng lễ vật và thắp hương tại các đài tưởng niệm liệt sĩ như ở Đài liệt sĩ Bắc Sơn, thành cổ Quảng Trị, đền thờ Bến Dược (TP.HCM), nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Vị Xuyên (Hà Giang)…; Tổ chức chương trình “Đền ơn đáp nghĩa - 70 năm về nguồn 27/7”, với việc rước chân linh anh hùng liệt sĩ và đất từ quần đảo Trường Sa, nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên (Hà Giang), đồi 468 tại xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên (Hà Giang) về nhập vào bát hương anh hùng liệt sĩ toàn quốc đặt tại Khu Di tích lịch sử 27/7 ở huyện Đại Từ (Thái Nguyên). Báo Thời báo làng nghề Việt tích cực tham gia các hoạt động từ thiện như xây cầu 250 tại phước Long, Bạc Liêu hoặc tặng 500 sổ bảo hiểm y tế cho các học sinh nghèo tại Long An, Kiên Giang và Hậu Giang...

9. Sự ghi nhận, vinh danh: HHLNVN đã vinh dự được đón nhận: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của Bộ Công thương, Bức trướng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với 18 chữ: “Hiệp hội Làng nghề Việt Nam bảo tồn - tôn vinh - phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam”, Bằng khen và cờ thi đua của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với thành tích: “Vì sự nghiệp phát triển làng nghề bền vững”, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá Hiệp hội Làng nghề Việt Nam là 1 trong 3 tổ chức xã hội nghề nghiệp hoạt động tốt và quản trị tốt.

Ngoài ra nhiều đơn vị và cá nhân là hội viên của HHLNVN cũng đã nhận được bằng khen của Thủ Tướng Chính Phủ, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam

II. Bài học kinh nghiệm

1. Hướng mọi hoạt động của Hiệp hội nhằm phục vụ hội viên, thường xuyên tổ chức khen thưởng, động viên, vinh danh thành tích hội viên...

2. Chủ động sáng tạo trong việc khai thác các nguồn lực từ những tổ chức trong nước và quốc tế. Huy động nội lực từ sự tham gia của hội viên.

3. Luôn duy trì và củng cố tinh thần đoàn kết giữa các tập thể, cá nhân, kết hợp hài hòa lợi ích của hội viên với lợi ích chung của cộng đồng.

4. Lấy nguyên tắc “Công khai, minh bạch” làm căn bản trong mọi hoạt động của Hiệp hội.

5. Luôn luôn coi trọng yếu tố “văn hóa” trong các hoạt động bảo tồn và phát triển làng nghề. 

Phương hướng và nhiệm vụ nhiệm kỳ IV( 2018-2022)

Phương hướng nhiệm kỳ IV


Chủ đề cho các hoạt động trong nhiệm kỳ IV sẽ là: “Kết nối cộng đồng làng nghề, bảo tồn văn hóa, phát triển du lịch, hội nhập quốc tế”. 

II. Nhiệm vụ nhiệm kỳ IV

1. Phát huy những thế mạnh của hội viên, thường xuyên tổ chức những hoạt động phối hợp như các hội chợ, triển lãm, diễn đàn, hội thảo, các sự kiện lễ hội tại địa phương. Đặc biệt chú ý công tác phát triển hội viên.

2. Tăng cường công tác truyền thông, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng về hoạt động của Hiệp hội và cộng đồng làng nghề cả nước

3. Thường xuyên thực hiện các hoạt động tôn vinh, khen thưởng các danh hiệu làng nghề.

4. Chú trọng công tác thiết kế, cải tiến mẫu mã sản phẩm thủ công theo hướng phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

5. Xây dựng chương trình phát triển du lịch làng nghề

6. Từng bước nâng cao năng lực hợp tác quốc tế của Hiệp hội thông qua việc huy động tiềm lực của hội viên.

7. Động viên hội viên tích cực tham gia Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP).

8. Thực hiện công tác phản biện xã hội, tích cực đóng góp ý kiến xây dựng chính sách liên quan. Nghiên cứu đề xuất xây dựng văn pbản pháp lý cần thiết. 

III. Giải pháp thực hiện

1. Kiện toàn tổ chức Hiệp hội từ Ban Chấp hành, Ban Thường trực, đến các tổ chức cơ sở và các địa phương. Thành lập Hội đồng liên lạc các câu lạc bộ nghệ nhân làng nghề.

2. Xây dựng mối quan hệ thường xuyên với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại Công nghiệp VN (VCCI), cơ quan quản lý Nhà nước các cấp, các đoàn thể, tổ chức xã hội - nghề nghiệp liên quan.

3. Tiếp tục thực hiện 6 chương trình hoạt động, đó là: Chương trình Bảo tồn và phát triển làng nghề; Chương trình phát triển doanh nghiệp làng nghề; Chương trình xúc tiến thương mại; Chương trình thông tin; Chương trình văn hóa, du lịch làng nghề; Chương trình đối ngoại. 

4. Xây dựng mối liên kết với các cơ quan nghiên cứu, đào tạo đưa khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, thiết kế mẫu mã mới, sản xuất an toàn vào làng nghề. 

5. Xây dựng mô hình điểm “con chim đầu đàn” trong một số làng nghề tiêu biểu như Làng nghề gốm Bát Tràng, Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc...

6. Từng bước nghiên cứu khả năng xây dựng dự án và huy động sự đầu tư để Hiệp hội có đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo hoạt động ổn định lâu dài.
Lưu Duy Dần
Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam