$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ năm, 09-02-2017 | 15:48GMT+7

Nam Định: Xuân về làng cổ Kiên Lao

Chuyện người xưa

Ngọc phả đền Kiên Lao ghi chép rằng hơn 600 năm về trước, các vị thuỷ tổ cùng dân đinh của 13 dòng họ: Bùi, Trịnh, Nguyễn, Lương, Lê, Trần, Phạm, Ngô, Vũ, Mai, Đặng, Đỗ, Đinh đã tới đây khai khẩn cồn hoang. Qua nhiều năm tháng ròng rã lao động dầu dãi nắng mưa, cha ông đã từng bước đào sông, đắp đường, khai phá các cồn lau hoang vu lấy đất đai canh tác. Do đất đai khai phá từ các cồn lau nên tên làng lúc đầu được đặt là Căn Lau, sau đó đổi thành Kiên Lao - tiền thân của hai xã Xuân Kiên, Xuân Tiến huyện Xuân Trường ngày nay. 

Kiên Lao là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, có truyền thống hiếu học lâu đời. Sau quá trình khai hoang mở đất, làng xóm dần đi vào ổn định, ông cha đã nghĩ ngay đến việc tìm thầy dựng lớp để lo việc học hành cho con cháu. Xuất phát từ nhận thức ấy mà trước đây ở làng đã có các lớp học chữ Hán do các ông đồ mở. Mặc dù cuộc sống còn bộn bề khó khăn, nhưng với tinh thần hiếu học, tôn vinh các bậc danh nho, làng đã xây Văn Chỉ để ghi danh những người đỗ đạt. Làng còn xây miếu Tiên Hiền để thờ ông Ngô Duy Đẩu và hai anh em ông Ngô Tấn Cung, Ngô Tấn Ry cùng đỗ tiến sĩ vào cuối đời Hậu Lê. 

Trải qua hơn 600 năm mở đất, dựng làng, đất và người Kiên Lao đã gắn kết nhuần nhuyễn tạo nên truyền thống tốt đẹp về lòng nhân ái, yêu nước, tinh thần hiếu học, đồng thời biết gìn giữ, bảo tồn nét đẹp văn hoá đặc trưng của làng quê Việt Nam.  

Đất đa nghề hôm nay

Kiên Lao xưa là “đất lành chim đậu”, nơi hội tụ cư dân từ các huyện Xuân Trường, Vụ Bản, Ý Yên và cả tỉnh ngoài gồm: Ninh Bình, Thái Bình, Thanh Hoá đến mở đất, làm ăn, sinh sống nên họ rất năng động, không quản ngại khó khăn, vất vả, lại mang theo những nghị lực và tinh hoa vốn có của đất nghề các nơi. Nhờ đó mà trên quê hương Kiên Lao phát triển rất nhiều nghề, nghề nào cũng tạo ra sản phẩm nức tiếng khắp nơi. 
 

Nghề nông nghiệp đã phát triển khá sớm từ thuở mở đất để lo cái ăn. Nhiều thế hệ đã tiếp nối quá trình đắp đê, khai sông, xây cống đưa nước ngọt về thau chua, rửa mặn, cải tạo ruộng đồng. Từ những loại lúa tép, lúa hin, hom râu dần được chọn lọc, thay thế bằng các giống lúa lai, đặc sản tám xoan, nếp hoa vàng thơm ngon, giàu dinh dưỡng. Thóc gạo gieo trồng ở đồng đất này kết hợp với bí quyết ủ men, nấu mọng truyền thống đã tạo nên sản phẩm rượu quê Kiên Lao mang hương vị riêng không lẫn với bất cứ loại rượu nào trên thị trường. Sản phẩm rượu Kiên Lao đã được Hội Liên hiệp khoa học Việt Nam cấp giấy chứng nhận “Thực phẩm an toàn vì sức khoẻ cộng đồng”. 

Thế mạnh lớn nhất của làng cổ Kiên Lao từ nhiều đời nay vẫn là nghề cơ khí. Từ sản xuất nông cụ nhỏ lẻ phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, người làm nghề đã phát triển năng lực sản xuất chế tạo được các loại máy phục vụ nông nghiệp và các ngành xây dựng, chế biến nông sản, lâm sản, đóng tàu thuyền với quy mô lớn. Giá trị thu nhập từ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thường xuyên chiếm tỷ trọng 75% tổng giá trị thu nhập tại địa phương. 

Nghề đúc chuông ở làng Kiên Lao được đánh giá là độc đáo nhất miền Bắc. Theo các cụ cao niên kể lại, nghề đúc chuông tại Kiên Lao đã có tiếng từ hơn 200 năm qua. Tổ nghề là cụ Lê Văn Nghiễm, gốc thôn Trà Đông, huyện Thiệu Hoá (Thanh Hoá). Cuộc đời phiêu bạt của cụ Nghiễm thời thanh niên đến đất này và mối tình với cô gái con quan tỉnh Thái Bình đượm màu lãng mạn của một cặp trai tài, gái sắc. Thoạt đầu cụ Nghiễm có ý định lập nghiệp tại Thái Bình. Duyên trời run rủi, một lần lên đò qua sông, đò đông, sóng cả, mọi người nhốn nháo làm thuyền chòng chành. Vốn có giọng hát hay, cụ liền ca lên để thu hút mọi người lắng nghe mà quên sợ, nhờ đó chuyến đò sang sông an toàn. Trên đò có cô gái con quan cảm phục tìm cách bắt chuyện, rồi họ “phải lòng” nhau. Do không “môn đăng hậu đối”, gia đình cô gái nshất quyết không chịu gả cho chàng trai xứ Thanh. Họ đã cùng nhau trốn sang đất Xuân Trường rồi trụ lại ở Kiên Lao làm ăn, sinh sống. Từ đó cụ Nghiễm đem nghề đúc đồng truyền cho dân làng để tri ân những người đã cưu mang, che chở cho họ. Nghề đúc chuông ở Kiên Lao ra đời như vậy.

Chuông đúc ở Kiên Lao có hai loại, chuông Tây và chuông Nam. Chuông Tây kéo dây của các nhà thờ, còn chuông Nam đánh bằng vồ treo ở chùa. Đúc chuông ngoài yêu cầu kỹ, mỹ thuật để tạo hình dáng, hoạ tiết, hoa văn gọi là “sắc” còn đòi hỏi nghiêm ngặt riêng về tạo tiếng gọi là “thanh”. Dù chuông Tây hay chuông Nam khi thỉnh lên tiếng phải trong, ngân nga, âm vang trong thinh không tưởng chừng không bao giờ dứt. Các loại sản phẩm đúc khác nếu bị khuyết điểm chỗ kín có thể bỏ qua, hoặc sửa chữa được. Còn quả chuông, đúc xong đòi hỏi phải hoàn hảo cả “thanh và sắc”. Chỉ một sơ suất kỹ thuật làm chuông đúc ra không trong tiếng chưa nói đến rè, là phải bỏ đi đúc lại. Chính vì vậy, sản phẩm chuông đúc ở làng Kiên Lao đã có mặt ở nhiều nơi như: Chùa Thăng Phúc (Hải Phòng); Chùa Núi Một (Côn Đảo), Đền thờ tại Ngã ba Đồng Lộc, Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Đặc biệt, trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, quả chuông mang tên “Đại hồng chung Thăng Long linh tụ” do làng Kiên Lao đúc được treo trang trọng tại điện Kính Thiên trong Hoàng thành Thăng Long.

Phát triển gắn với bảo tồn các giá trị văn hoá của làng nghề truyền thống ngoài các nghề kể trên, tại vùng đất Kiên Lao hôm nay người dân vẫn giữ được các nghề sản xuất bánh đa nem, miến dong, làm quạt giấy, đúc tượng Thánh, đúc kèn đồng phục vụ các nhà thờ đạo. Năm 2006, chiếc kèn đồng dài 5,5m do những người thợ làng Kiên Lao thực hiện trưng bày tại khuôn viên giáo phận Bùi Chu được ghi vào sách kỷ lục Việt Nam.
Xuân Thu

Ảnh: Nghề đúc chuông Kiên Lao.