$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ năm, 20-09-2018 | 10:08GMT+7

Phần III: Du lịch Nông nghiệp Việt Nam: Tiềm năng phát triển đa dạng

TBV - Thủa học vỡ lòng đã in đậm trong mỗi chúng ta dáng hình chữ S cùng “Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”, lòng tự hào về truyền thống hàng ngàn năm văn hiến, ngàn năm dựng nước và giữ nước,… của đất nước, của dân tộc mình.
Phần III: Du lịch Nông nghiệp Việt Nam: Tiềm năng phát triển đa dạng

Việt Nam tuy có diện tích nhỏ trên bản đồ thế giới nhưng lại là đất nước có vị trí chiến lược đặc biệt cả về quân sự lẫn giao thương. Tiếp giáp với bảy nước, như: Trung Quốc (Phía Bắc), Lào (Tây Bắc), Campuchia (Tây Nam), Thái Lan (Vịnh Thái Lan), Philippines, Malaysia và Indonesia (trên biển Đông ở phía Đông và Đông Nam).
 
Lòng tự hào về quê hương, đất nước được khắc họa
trong cuộc sống, lao động thường nhật

Đặc điểm vùng Biển, Đảo:

Việt Nam có vùng biển nối liền tuyến giao thông vận tải đường biển quan trọng giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, Châu Á với Châu Âu, Châu Úc với Trung Đông; là một phần của Biển Đông, Biển Việt Nam có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi và là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển. Đặc biệt, Biển Đông Việt Nam là tuyến giao thương dầu mỏ và container từ các nước khác tới những quốc gia tiêu thụ khối lượng năng lượng khổng lồ, như: Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Phần tiếp giáp biển trải dài gần 3.400km, gồm những bãi biển sạch, cát mịn đẹp như tranh, như thơ. Trong đó, có rất nhiều bãi, vịnh còn hoang sơ, được ví là những “Hoành sơn thiên nhiên tráng lệ”.
 
“Rừng vàng, Biển bạc” – Làng Kế Môn, Thừa Thiên Huế

Việt Nam có hệ thống các quần đảo, đảo trong vịnh lớn, như: Đảo trong Vịnh Hạ Long, Đảo trong vịnh Bái Tử Long, Đảo Cô Tô, Đảo Cái Bầu, Đảo Đồng Rui, Đảo Cồn Cỏ, Đảo Cù Lao Chàm, Đảo Cù Lao Xanh, Hòn Mù U, Hòn Đôi, Đảo Khỉ, Đảo Phú Quốc,... Trong đó, có hai quần đảo xa bờ là: Trường Xa, Hoàng Xa

Vùng đồng bằng, đồi núi thấp và cao nguyên:

Phần lớn đất của Việt Nam là đồi núi, có mật độ rừng che phủ cao. Núi chiếm tới 40% diện tích đất liền, trong đó, hơn 42% là rừng nhiệt đới. Địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.

Đồng bằng Sông Hồng ở phía Bắc là một khu vực hình tam giác bằng phẳng, nhỏ hơn khu vực Miền Nam nhưng lại đông dân cư hơn đồng bằng Sông Cửu Long.

Miền Nam được chia thành các vùng đất thấp ven biển, các dãy núi của dãy Trường Sơn và các khu rừng rộng lớn.

Khu vực đồng bằng, đồi núi thấp và cao nguyên của Việt Nam được bao, phủ bởi một “mê cung” các con sông và kênh rạnh mang theo những trầm tích

Việt Nam trở thành một đất nước, tuy không phải là rộng lớn, nhưng lại có nguồn tài nguyên thiên nhiên được ưu đãi vào bậc nhất nhì Đông Nam Á: Mỏ Apatit (Lào Cai) là loại quặng quý và lớn nhất Đông Nam Á; Mỏ Vàng, Bạc, Sắt, Đồng, Bôxit;.. nằm rải rác khắp nơi. Tiềm năng thủy điện dồi dào. Tiềm năng rừng rất lớn, như: Đinh, Lim, Sến, Táu, PơMu, SaMu, Sâm Ngọc Linh, Cây Mật Gấu, Cây Cu Ly, Củ Hoàng Liên…
 
Dãy rừng già Trường Sơn

Sự ưu đãi từ khí hậu

Tuy nằm trọn trong vùng nhiệt đới nhưng khí hậu Việt Nam lại phân bố thành ba vùng khí hậu riêng biệt theo phân loại khí hậu Koppen 

Miền Bắc và Bắc Trung bộ là khí hậu cận nhiệt đới ẩm. Miền Bắc gồm bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. 

Miền Trung, bao gồm phần lãnh thổ phía Đông dãy Trường Sơn đến phía Nam dãy Hoành Sơn, mang đậm đặc tính của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Miền này có mùa mưa và mùa khô không cùng lúc với mùa mưa và mùa khô của hai miền còn lại.

Tây Nguyên và Nam bộ là khí hậu nhiệt đới xavan. Miền này thường có hai mùa: Mùa khô và mùa mưa rõ rệt.

Đồng thời, do nằm ở rìa phía Đông Nam của phần châu Á lục địa, giáp biển Đông (một phần của Thái Bình Dương), nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa mậu dịch, thường thổi ở các vĩ độ thấp. 

Nói cách khác: Miền Bắc Việt Nam hoàn toàn trong vùng ôn đới, miền Nam Việt Nam hoàn toàn trong vùng nhiệt đới. 

Lịch sử hình thành và phát triển các vùng miền cũng như sự khác biệt về khí hậu đã tạo nên sự phong phú, đa dạng của các thảm động, thực vật cũng như các địa tầng mỏ nội sinh.

Việt Nam nằm trong vùng sinh thái Indomalaya, là một trong hai mươi năm quốc gia được coi là có mức độ đa dạng sinh học cao duy nhất (theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2005). Được xếp hạng thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học, là nơi sinh sống khoảng 16% các loài trên thế giới, khoảng gần 16 ngàn loài thực vật đã được xác định trên cả nước, trong đó, khoảng 10% là loài đặc hữu. 

Khí hậu nhiệt đới ẩm, là điểu kiện thích hợp cho cây dược liệu, cây ăn trái. Chính vì vậy, vùng núi Tây Bắc của Việt Nam là “cái nôi” của nhiều bài thuốc cổ truyền với những cây dược liệu quý có giá trị về chăm sóc sức khỏe cũng như có giá trị về kinh tế cao, như: Thuốc tắm người Dao, Thuốc tắm người H’Mông, những thang thuốc bổ máu, bồi bổ thể trạng suy nhược,…

Biển đảo Việt Nam có khí hậu nhiệt đới tạo điều kiện cho sinh vật biển phát triển và tồn tại tốt. Biển có tài nguyên sinh vật và khoáng sản đa dạng, phong phú và quý hiếm.

Sự hấp dẫn từ đa dạng bản sắc văn hóa – xã hội:

Yếu tố được coi là đặc trưng của văn hóa Việt Nam khi nhìn nhận từ bên ngoài, là: Văn hóa thờ cúng tổ tiên, tôn trọng các giá trị cộng đồng và gia đình, thủ công mỹ nghệ, lao động cần cù và hiếu học.

Những biểu tượng quan trọng trong văn hóa của Việt Nam, được các nước phương Tây đánh giá cao, là: Rồng, Rùa, Sen và Tre.

Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh. Người Việt, với cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời. Có những lễ hội mang nhiều ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng. Tín ngưỡng thể hiện niềm tin bền vững, sự khoan dung trong tư tưởng giáo lý khác nhau của tôn giáo. Văn học, nghệ thuật thể hiện tính cặn kẽ và ẩn dụ trong giao tiếp truyền đạt của ngôn ngữ từ truyền thống đến hiện đại.

Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư tạo nên những nét văn hóa đặc trưng rất riêng của Việt Nam. Từ “cái nôi” văn hóa Đồng bằng sông Hồng, chủ đạo với nền văn hóa kinh kỳ, văn hóa làng xã và văn minh lúa nước đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây Bắc và Đông Bắc. Từ vùng đất biên viễn thời dựng nước ở Bắc Trung bộ đến sự pha trộn văn hóa Chăm Pa của người Chăm ở Nam Trung bộ. Từ những vùng đất mới ở Nam bộ với sự kết hợp văn hóa các dân tộc người Hoa, khmer đến sự đa dạng trong văn hóa và tộc người ở Tây Nguyên.
 
Văn hóa Tây Nguyên

Với lịch sử hàng ngàn năm cùng với những hội tụ về sau của các dân tộc khác, từ văn hóa bản địa của người Việt cổ thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài hàng ngàn năm nay; với những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốc và Đông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21, văn hóa Việt Nam đã có những thay đổi và chuyển biến mạnh theo từng thời kỳ lịch sử, có những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cảnh văn hóa khác được bổ sung, tạo nên một nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

Quả thật, đất nước Việt Nam tươi đẹp và giàu có cả về tài nguyên thiên nhiên lẫn sự hấp dẫn từ một nền văn hóa cổ truyền pha lẫn hiện đại một cách chọn lọc, tinh tế.
 
Bài và ảnh Ngọc Lưu Ly