$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ năm, 17-05-2018 | 09:34GMT+7

Tiến tới Đại hội lần thứ IV Hiệp hội Làng nghề Việt Nam: Tương tác giữa mỹ thuật công nghiệp với làng nghề trong sáng tạo sản phẩm thủ công mỹ nghệ

TBV - Mỹ thuật Công nghiệp và Làng nghề vốn có mối quan hệ trong quá khứ và đang ngày càng mật thiết, sâu sắc trong sáng tạo sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Mỹ thuật công nghiệp hay mỹ thuật ứng dụng - một lĩnh vực chuyên ngành lớn, có lịch sử lâu đời, nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, đào tạo nghề nghiệp chuyên sâu và sáng tạo sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Trong đó, sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống được sản xuất, chế tác tại các làng nghề truyền thống trên cả nước.
Thiết kế mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ còn gọi tạo mẫu thủ công mỹ nghệ  (HandyCraf Design) của đội ngũ nghệ nhân, nghệ sĩ, họa sĩ tạo hình thực sự là thế mạnh của nước ta đã có nhiều thành tựu nhưng cũng còn hạn chế, yếu kém cần khắc phục. Điều này thôi thúc quyết tâm thực hiện nhiệm vụ then chốt, mang tính sống còn là đẩy mạnh tương tác giữa mỹ thuật công nghiệp với làng nghề trong sáng tạo sản phẩm thủ công mỹ nghệ (TCMN).
 
Nhu cầu thiết kế mẫu sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm TCMN
 
Cả nước ta hiện có hàng nghìn nghề chuyên trong hơn 40 nhóm nghề lớn về TCMN (như dệt may; hàng lụa; vải, thổ cẩm; mây tre đan; kim hoàn; đá qúy; gốm sứ; đúc đồng; nhạc cụ dân tộc…). Lượng sản phẩm, mẫu sản phẩm TCMN cần phải thiết kế và đưa vào sản xuất, chế tác thực tế là rất lớn.
 
Thị trường trong nước: Hơn 90 triệu người Việt Nam là thị trường khá lớn, việc sử dụng đồ TCMN xưa nay đã trở nên phổ biến (đồ gỗ, sành sứ, thủy tinh, mây tre đan, trang sức kim hoàn, đồ thờ…). Sản phẩm mỹ thuật ứng dụng cổ truyền được định hình trong thẩm mỹ tiêu dung, song đang ưa chuộng các sản phẩm khác lạ, mang phong cách mới, hiện đại là yêu cầu thực tế ở nước ta cần được quan tâm.
 
Thị trường xuất khẩu và phục vụ khách du lịch quốc tế: Hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ đang nhập hàng TCMN của nước ta. Trong đó có các thị trường lớn, khó tính như EU, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Đông Nam Á… Thị phần hàng TCMN Việt Nam trên thế giới chưa lớn lắm (chỉ chiếm 3-5%) nhưng đang có chiều hướng tăng lên. Riêng đồ quà tặng tại EU hàng năm khoảng 700 tỷ USD mà chúng ta chỉ chiếm 0,3 – 0,5% là quá thấp, trong khi năng lực sản xuất của ta khá lớn nhưng thiếu mẫu sản phẩm phù hợp. Sản phẩm phục vụ du khách tại làng nghề hiện rất thiếu và yếu, lại thừa thãi hàng thấp cấp, đơn điệu, hàng nhái, chờ chợ. Các gian hàng Hội chợ thường thấy sản phẩm hao hao nhau.
 

Một số mẫu sản phẩm thủ công mỹ nghệ
 
Năng lực nghệ nhân, thợ giỏi trong từng nghề của ta hiện nay: Trình độ tay nghề rất cao với “Bàn tay vàng” không thua kém thợ bậc thầy của Trung Quốc, Nhật bản và nhiều nước khác được UNESCO coi là “Báu vật nhân văn sống”, là “Tài sản văn hóa quốc gia”. Đội ngũ Nghệ nhân Nhân dân, nghệ nhân Ưu tú và thợ giỏi ở làng nghề, phố nghề trên toàn quốc hiện rất đông đảo. Không ít thợ lão thành và thợ trẻ ở Việt Nam có khả năng thiết kế mẫu tinh xảo, có giá trị cao. Nhưng sự phối hợp tạo mẫu trong từng ngành hàng và toàn hệ thống từ địa phương đến toàn quốc hiện còn lỏng lẻo, rời rạc, chưa tạo thành sức mạnh chung.
 
Địa lý xuất xứ hàng hóa và thương hiệu:
 
- Thế mạnh về địa danh làng nghề và sản phẩm TCMN của ta đã nổi tiếng đến mức “Dân biết mặt, nước biết tên” và thế giới cũng biết tên. Chúng ta đã biết khai thác thế mạnh này để xây dựng thương hiệu có hiệu quả, tuy chưa được nhiều như mong muốn. Những nơi tận dụng thành công lợi thế này là làng gốm Bát Tràng, Công ty CP gốm sứ Chu Đậu, đồ gỗ sơn son thếp vàng Sơn Đồng, chạm bạc Đồng Xâm, chạm khắc đá non nước - Ngũ Hành Sơn, trống Đọi Tam, đèn lồng Hội An, đúc đồng Ngũ Xã, chạm khắc gỗ Đồng Kỵ...
 
- Vô số địa danh, sản phẩm danh giá lâu đời còn để hoài phí, chưa tận dụng phát huy như thêu Xuân Nẻo, giầy Tam Lâm, giấy sắc Nghĩa Đô… Lỗi ở đây phải chăng ở việc đào tạo, truyền dạy nghề, nhất là đầu tư thiết kế mẫu và tạo sản phẩm mới phù hợp thị trường.
 
Chương trình mỗi làng một sản phẩm theo kinh nghiệm mới phù hợp thị trường có kết quả ở Quảng Ninh và vài tỉnh khác, nhìn chung chưa hoàn toàn phù hợp thực tiễn ở nước ta, do thói quen hô hào phong tào mà chưa nghiên cứu kỹ càng sâu sắc. Xây dựng sản phẩm mang thương hiệu quốc gia, thương hiệu địa phương cấp tỉnh thành, vùng miền của ngành nghề TCMN tuy đã được luận bàn, nhưng đến nay vẫn là bài toán khó ở ình diện chiến lược chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
 
Năng lực đào tạo họa sĩ, kỹ sư thiết kế mỹ thuật và nhà tạo mẫu chuyên nghiệp về TCMN. Ở nước ta hiện nay có các họa sĩ bậc thầy về mỹ thuật ứng dụng, các kỹ sư thiết kế tài năng, các chuyên viên đồ họa, các nghệ nhân thợ giỏi có tài “ra mẫu” (tạo mẫu) đã được đào tạo trong và ngoài nước, được truyền nghề từ thế hệ trước trong gia tộc nghề. Đây là những “máy cái” của hệ thống dây chuyền công nghệ thiết kế mẫu sản phẩm TCMN, hay nói cách khác là thiết kế sản phẩm mỹ thuật ứng dụng ở Việt Nam.
 
Chỉ khi nào huy động được các nhà thiết kế và ra mẫu nói trên thành hệ thống “dây chuyền công nghệ” (Bằng chính sách và cơ chế mới) thì chúng ta (Nhà nước, Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp và các trường dạy nghề, khoa chuyên ngành, Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, các Hội làng nghề và tổ chức Quốc tế tại Việt Nam) mới có thể có đủ năng lực nghiên cứu, thiết kế, tạo mẫu TCMN đủ mạnh và mang tầm chiến lược quốc gia. 
 
Đẩy mạnh tương tác giữa đào tạo mỹ thuật công nghiệp với nhu cầu thiết kế mẫu sản phẩm làng nghề
 
Ở nước ta, mối tương tác mỹ thuật ứng dụng với làng nghề đã có từ rất lâu đời, bằng chứng còn lưu giữ đến nay là vô vàn vật phẩm, cổ vật được coi là báu vật nghệ thuật văn hóa quốc gia và di sản thế giới.
 
Thời Pháp thuộc, tại xưởng trường Mỹ thuật Đông Dương (tại Hà Nội), Nghệ nhân Nguyễn Văn Thành ngẫu nhiên tạo ra sơn mài Nghệ thuật. Thành tựu của ông đã khai sinh ra sơn mài ở Việt Nam và nước ta đã duy nhất sang tạo ra sơn mài trên thế giới. Từ đó đã hình thành ra hai lĩnh vực: Sơn mài nghệ thuật và sơn mài mỹ nghệ. Sơn mài mỹ nghệ phát triển mạnh mẽ trong các làng nghề, nuôi sống hàng ngàn lao động nông thôn.
 
Các họa sĩ tạo hình được đào tạo tại Trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa thời Pháp thuộc đã tạo sắc diện mới cho nghề gốm Cây Mai (Sài Gòn), gốm sứ Lái Thiêu và Biên Hòa, sơn than và sơn mài Bình Dương, chạm khắc gỗ ở Nam Bộ.
 
Và mấy chục năm qua, Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp và các trường dạy nghề trung, sơ cấp trở thành “bà đỡ” cho thiết kế mẫu sản phẩm TCMN cho nhiều doanh nghiệp làng nghề, hỗ trợ với các nghệ nhân, thợ cả, thợ chuyên nghiệp cùng góp công sức tạo mẫu sản phẩm hàng hóa có giá trị văn hóa đặc sắc, giá trị kinh tế đáng ghi nhận.
 
Trước vị thế làng nghề, phố nghề và giá trị hàng TCMN Việt Nam chúng ta mong muốn tương tác giữa các cơ sở đào tạo mỹ thuật ứng dụng và làng nghề đẩy mạnh hơn nữa, các nghệ nhân, nghệ sĩ và chuyên gia TCMN gắn kết với các doanh nghiệp (công ty, hộ sản xuất) để có thể tạo bước tiến mới về thiết kế mẫu sản phẩm đáng giá, đủ sức cạnh tranh lợi thế trên thị trường quốc tế và tại sân nhà so với đồ ngoại nhập.
 
Một số đề xuất
 
1. Động viên, thu hút tối đa các họa sĩ thiết kế, nhà nghiên cứu chuyên môn sâu nghệ nhân, thợ giỏi và nhà doanh nghiệp cùng kiên kết về tạo mẫu sản phẩm TCMN, tạo năng lực chung từ “4 nhà” cho bước tiến triển mới của làng nghề.
 
2. Xây dựng cơ chế hợp tác có lợi ích các thành viên tham gia. 
 
3. Đổi mới căn ản chương trình đào tạo, truyền dạy nghề thiết kế mẫu, gắn tạo mẫu, chế thử sản phẩm và bàn giao cho nhà sản xuất, chế tác khéo nguyên tắc lợi ích kinh tế thị trường có sự chỉ đạo và hỗ trợ của nhà nước. Nhà nước đầu tư cho phát triển hàng TCMN cũng hưởng lợi do thu thuế tiêu thụ hàng hóa tăng lên, mà vốn đầu tư vẫn bảo tồn nguyên vẹn.
 
4. Tôn trọng bản quyền tác giả và kiểu dáng công nghiệp, chống mọi vi phạm, tiến tới xóa bỏ hàng nhái, hàng giả gây thiệt hại cho nhà tạo mẫu và doanh nghiệp sản xuất tại các làng nghề, gây bức xúc trong xã hội và tạo cản trở quyết tâm hàng động của chúng ta.
 
5. Bảo vệ bí mật quốc gia về thủ pháp kỹ thuật, bí quyết nghệ thuật cổ truyền của nghệ nhân và của sản xuất TCMN đặc thù của Việt Nam. Các cơ quan chức năng có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ và xử lý sai phạm nghiêm trọng.
 
Phát huy tài năng, tâm sức đội ngũ thiết kế mẫu cả nước, chúng ta từng ước giải quyết được tình trạng thừa hàng, thiếu mẫu lâu nay trong ngành nghề truyền thống. Giải quyết đúng quyền lợi chính đáng của nhà thiết kế mẫu, khuyến khích sang tác sản phẩm tinh sảo, độc đáo, thiết dụng, đa dạng hóa và tạo mau lẹ sản phẩm mới được coi là chìa khóa thành công của làng nghề.
 
ThS. Bùi Văn Vượng - Chuyên gia TCMN Và Làng nghề
Giám đốc Trung tâm Tạo mẫu Hỗ trợ Làng nghề Việt Nam