$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ hai, 18-06-2018 | 14:21GMT+7

Văn hóa Làng nghề và Làng nghề Văn hóa

TBV - Làng nghề gắn bó máu thịt với người Việt Nam như một bộ phận không thể tách rời của Làng Việt và là niềm tự hào chung của tất cả chúng ta.
Hiện nay cả nước có trên 5400 làng nghề (LN) và làng có nghề, trong đó có gần 2000 làng nghề đã được công nhận, trên 400 làng nghề truyền thống, với hơn 50 nhóm nghề khác nhau.

Riêng Hà Nội là nơi nhiều nhất với 1350 LN đã được công nhận với hàng trăm LN, phố nghề truyền thống. Có tới 200 loại sản phẩm làng nghề, nhiều loại sản phẩm có lịch sử phát triển trăm năm, ngàn năm, như đồ gốm, đồ đồng… Trong hơn 16 triệu hộ sản xuất cá thể cả nước có phần đáng kể những gia đình làng nghề. Làng nghề nói chung thu hút khoảng 10 triệu lao động, tạo hàng triệu việc làm hàng năm, phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước và xuất khẩu thu về khoảng 1,6 tỷ USD/năm. LN đóng góp hiệu quả cho phát triển du lịch, quảng bá thương hiệu Việt Nam.
Làng nghề là sản phẩm của văn hóa-xã hội Việt, gắn bó với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, có vai trò xứng đáng trong tiền trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh và hội nhập quốc tế.

Người ta cho rằng có tới 80% giá trị văn hóa phi vật thể của Việt Nam đang tồn tại ở làng quê, 80% giá trị văn hóa vật thể lưu truyền đến nay, cũng xuất phát từ Làng Việt. Đó là những sản phẩm đậm chất “văn hóa làng”, trong đó LN hội tụ những đỉnh cao, tinh hoa.
 

Ngày nay nhà nước đã phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” cho gần 500 người ở các địa phương và ở các ngành nghề khác nhau.

Hiệp Hội Làng Nghề Việt Nam đã trao tặng Bảng vàng gia tộc làng nghề truyền thống cho gần 90 gia đình nghệ nhân LN.

Không chỉ có những người “sinh nghề tử nghệ” mà còn những người không làm nghề nhưng đã dầy công sưu tầm, lưu giữ sản phẩm nghề, bởi tinh hoa,  hồn cốt Việt được thể hiện, kết tinh trong từng sản phẩm. Đồ gốm, đồ đồng, đồ đá, đồ thờ, đồ thêu, tranh, ảnh…., dụng cụ sản xuất, lao động, trang phục, thổ cẩm, hàng dệt, hàng mây tre đan, đồ trang sức, hàng mỹ nghệ, vàng bạc, nhạc cụ dân tộc, vân vân và vân vân, trong đó có cổ vật quý hiếm, thậm chí cả tầm bảo vật quốc gia. 

Làng nghề và làng Việt như hình với bóng. Văn hóa LN là sự phản ánh của văn hóa làng Việt, hơn nữa là sự hội tụ và tỏa sang bản sắc Việt.

Làng nghề là một cộng đồng xã hội thu nhỏ của những người, những gia đình, dòng họ, làm một hay nhiều nghề. Khi gọi là nghề truyền thống là làng có nghề hình thành lâu đời, có sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt được lưu truyền và phát triển đến nay. LN đống nhất với làng Việt khi xem xét làng đó là một đơn vị dưới cơ sở, có tư cách pháp nhân, như mái nhà chung, môi trường sống chung của những người làm nghề, vừa là thành viên, vừa là chủ thể. Mặt khác khi nói tới LN lại thường nói đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, phân phối sản phẩm phi nông nghiệp… mà tên làng là chỉ dẫn địa lý hay xuất xứ của sản phẩm nghề. Khác với sản phẩm nông nghiệp thuần túy, sản phẩm nghề đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo cá nhân, mang dấu ấn truyền thống, bản sắc dân tộc, thậm chí cả bí quyết nghề nghiệp Trong mối quan hệ đan xen ràng buộc của làng Việt, sự phân biệt như trên cũng chỉ là tương đối, những quan trọng, cần thiết khi xem xét, xử lý những vấn đề cụ thể, những chính sách liên quan đến nghề, làng nghề và người làm nghề.
 

Ngoài tính cộng đồng làng xã, họ mạc, người LN còn có ý thức cộng đồng nghề nghiệp sâu đậm. Làng Việt có tín ngưỡng thờ thành hoàng như vị thần bảo vệ cho cả làng (có thể đó là nhân thần hay thiên thần…) LN có tục thờ Tổ nghề, Tổ sư rất thành kính.Các vị Tổ này cũng có thể là thần thành hoàng làng, nhưng tất cả đều là nhân thần. Hiệp hội ẩm thực Việt Nam vừa mới ra đời đã đề cập ngay việc tôn vinh vị Tổ nghề, trong đó có đề xuất Làng Liên là Tổ nghề Bánh chưng, Làng Việt có hương ước, nhiều dòng tộc có tộc ước, người LN có qui ước nghề nghiệp rất đáng trân trọng. Làng Việt tổ chức theo phe, giáp, làng nghề còn có tổ chức phường ý nghĩa kinh tế hơn.

Làng nghề nói chung có phong tục tập quán, nếp sống, lễ hội, văn hóa, văn nghệ, tín ngưỡng dân gian phong phú, đậm đà sắc màu dân tộc. Làng nghề như một bảo tàng dân tộc tổng hợp sinh động về văn hóa Việt Nam, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa bản địa quí báu của địa phương, hồn cốt của dân tộc. Do đó nó là cơ sở, là điều kiện để hướng tới xây dựng làng nghề trở thành điểm đến hay nơi dừng chân của các tour du lịch, một tiềm năng phát triển du lịch.

Quan tâm đến sự tồn tại và phát triển LN vẫn là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Những vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn thường gọi là “Tam nông” đã được đặt ra từ lâu. Các văn bản luật, dưới luật từng được ban hành, liên quan đến khuyến nông, khuyến công xúc tiến thương mại phát triển sản xuất, mở rộng thị trường, đầu tư, kinh doanh, vấn đề thuế, sử dụng vốn, quĩ, quan tâm đào tạo, tôn vinh tài năng, đề cao gia trị văn hóa trong sản phẩm đều có tác dụng hiệu quả nhất định đồi với LN.

Song trước biến động và đòi hỏi phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN trong bối cảnh hội nhập quốc tế mở rộng chưa từng có, thách thức của cách mạng 4.0 và bùng nổ thông tin gia tăng LN cần được quan tâm cùng cách nhìn mới sát sao, thiết thực, đồng bộ hơn. Nghề và LN đang là vấn đề thời sự hiện nay.

Chúng ta đã có những bài học kinh nghiệm về di dân, xây dựng vùng kinh tế mới, xây dựng làng thanh niên, làng sinh thái. Gần đây có bài học công nhận làng cổ, phố cổ, xây dựng các làng văn hóa du lịch. Hà Nội đang tiếp tục thực hiện các dự án xây dựng làng gốm Bát Tràng và làng lụa Vạn Phúc như một mô hình bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch bền vững. Cái chính là người làng nghề và LN phải hào hứng và năng động tham gia thực hiện đề án, dự án. Một số nơi đã có qui hoạch khu công nghiệp-làng nghề, nhưng đất đai giành cho làng nghề ở đây còn có những rào cản vướng mắc về thuê đất, sử dụng đất.

Nhà nước đang chỉ đạo tiếp tục phong trào “Xây dựng nông thôn mới- đô thị văn minh”, tiếp tục cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, trong đó có nội dung xây dựng gia đình văn hóa. Khu dân cư văn hóa (bao gồm thôn, ấp, bản, làng và các đơn vị tương đương). Dự thảo Nghị định của chính phủ đang được xây dựng về vấn đề này có 4 chương, 21 điều qui định tiêu chuẩn, qui trình công nhận danh hiệu “gia đình văn hóa” “thôn văn hóa” “làng văn hóa” “ấp văn hóa” “bản văn hóa” “tổ dân phố văn hóa” …

Đây là cơ hội để LN được tham gia thể hiện mình và phấn đấu trở thành làng nghề văn hoá, cao hơn là làng nghề văn hóa kiểu mẫu (hay làng nghề vă hóa tiêu biểu), làng nghề văn hóa-du lịch tiêu biểu…

Cho nên cần phải xây dựng văn hóa từ con người từ gia đình đến cộng đồng xã hội. Văn hóa thể hiện trong từng sản phẩm, trong cách ứng xử, trong sinh hoạt nếp sống lối sống, trong lao động, trong đạo đức nghề nghiệp, trong môi trường cảnh quan làng nghề, phố nghề, chống gian dối và phạm pháp luật. Bản sắc dân tộc là vấn đề sống còn, được nâng lên một cách hài hòa trong bối cảnh giao lưu hội nhập, trong điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghiệp ngày càng phát triển. 

Nhằm xử lý căn cơ những vấn đề của LN, không thể một sớm một chiều, không thể duy ý chí, trước thềm Đại hội IV, nhiệm kỳ 2018 - 2023 của Hiệp Hội Làng Nghề xin đề xuất một số việc sau:

Để có cơ sở hoạt động lâu dài, cần kiểm kê, đánh giá tình hình số lượng, chất lượng, phân bố, phân loại nghề và LN cùng các nội dung liên quan. Từ đó lập bản đồ, xây dựng ngân hàng dữ liệu LN Việt Nam và lập website LN Việt Nam; đưa kỹ thuật số vào việc quản lý hoạt động của LN VN.

Đề nghị nhà nước có luật hay pháp lệnh về làng nghề để điều chính các mối quan hệ đa dạng, phức tạp đan xen đối với nghề và LN đang có tác động cả tích cực, tiêu cực tới các lĩnh vực kinh tế- văn hóa- xã hội.

Các làng nghề cả nước tích cực hưởng ứng các cuộc vận động Xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, xây dựng gia đình văn hóa và khu dân cư văn hóa, cuộc vận động “mỗi xã một sản phẩm” với tinh thần tự giác, trách nhiệm cao, không vi phạm các điều cấm hay qui định không được làm, LN phải gương mẫu thượng tôn pháp luật. Trước mắt phấn đấu đến 2020 chậm nhất là trong nhiệm kỳ IV này ở mỗi tỉnh thành phố trực thuộc Trung Ương có từ một đến hai làng nghề văn hóa-du lịch tiêu biểu; mỗi huyện và tương đương có một làng nghề văn hóa du lịch tiêu biểu cấp huyện.

Phát động sáng tác những bài hát về làng nghề nói chung, những ca khúc tôn vinh nghề nghiệp, Tổ nghề hay các nghệ nhân tiêu biểu để tuyên truyền, cổ vũ về nghệ nhân- làng nghề VN, sử dụng trong các dịp lễ hội, liên hoan giao lưu của lN.
Hà Văn Tăng
Nguyên Cục Trưởng cục Văn hóa thông tin cơ sở