$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ sáu, 08-09-2017 | 09:39GMT+7

Về Làng cổ thưởng thức bánh “chè lam”

TBV - Gọi là chè lam nhưng thực chất đây là một loại bánh truyền thống được làm từ những nguyên liệu thôn quê dân dã. Những ngày tiết trời sang thu, về Làng cổ Đường Lâm, nếm thử miếng chè lam với ngụm nước vối ấm như chạm tới cái hồn quê Bắc Bộ.
Chè lam làng Mông Phụ.

Tuy không nổi tiếng bằng chè lam Phủ Quảng (Thanh Hóa) nhưng chè lam Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội) lại có cái quý riêng. Làng cổ Đường Lâm cách trung tâm Hà Nội khoảng 45km về phía Tây, là ngôi làng cổ nhất Việt Nam. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với không gian kiến trúc hàng trăm năm tuổi của đình Mông Phụ, nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh, chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự), những ngôi nhà cổ, nhà thờ họ, đền chùa, miếu cổ,… mà còn lưu giữ được những làng nghề truyền thống từ bao đời. 

Ngồi thưởng thức miếng bánh chè lam ngọt dịu cùng cốc nước trà xanh, cốc nước vối đăng đắng, ngắm một vùng quê yên ả, nghe những câu chuyện thời khai hoang, lập ấp… mới thấy cái hấp dẫn ẩm thực thôn quê. 

Chè lam ăn ngon nhất là vào những ngày gió heo may. Rời xa Hà Nội ồn ào, vội vã về Đường Lâm thời điểm này vô cùng lí tưởng để hòa mình thiên nhiên, sống chậm lại. Từ trong ra ngoài ngõ, chè lam bày bán khắp nơi, đi tới đâu lại có tiếng í ới mời thử chè lam, kẹo vừng, kẹo dồi, kẹo lạc, bánh tẻ, bánh gai…  tới đó. Hương nếp, hương gừng, hương đậu phộng rang cuốn hút chân du khách tới những gian hàng ăn thử miếng bánh, miếng kẹo. 
 
Đoàn du khách ăn thử chè lam.

Tuy mỗi nơi có một công thức làm chè lam khác nhau, nhưng nhìn chung đều bao gồm gạo, lạc, gừng và mạch nha, quy trình sản xuất hoàn toàn truyền thống. Cách làm chè lam đơn giản nhưng đòi hỏi những đôi tay biết đo đếm sao cho vừa lòng người. Gạo nếp ngon đem rang chín, xay mịn. Lạc rang chín, tách vỏ. Đun sôi hỗn hợp nước, gừng (băm nhỏ) và mạch nha, sau đó lần lượt đổ bột nếp, lạc rang vào, dùng thanh tre lớn khuấy đều. Khuấy bột là công đoạn quan trọng nhất, nó đòi hỏi cánh tay bền bỉ, dẻo dai, đầy lực của các bà, các mẹ. Khi hỗn hợp sôi hoàn toàn, nhấc ra khỏi lò, đổ lên khay lớn hoặc mâm (đã phủ sẵn một lớp bột gạo tẻ xay). Có thể rắc thêm vừng cho bánh thơm hơn. Bánh nguội dần, keo lại dẻo dai. Bánh được cắt thành từng miếng nhỏ để bán. Một miếng chè lam đạt yêu cầu là dẻo vừa phải, không mắc răng, có vị thanh, cay nồng của gừng, béo ngậy của vừng, lạc. Trước đây chè lam có vị ngọt đậm, theo sự thay đổi của du khách mà nay vị ngọt giảm dần, thanh nhẹ, dễ ăn.
 
 Miếng chè lam còn nguyên hạt gấc.

Ngoài chè lam truyền thống, người dân còn sáng tạo thêm món chè lam gấc. Chè lam gấc cũng có phương pháp chế biến tương tự, nhưng được bổ sung nước cốt từ quả gấc, tạo màu đỏ hấp dẫn, tốt cho sức khỏe. Bà chủ quán Hiền Bao (thôn Đông Sàng, xã Đường Lâm) hồ hởi đưa cho chúng tôi miếng bánh: “Đây các cháu xem, miếng chè còn nguyên hạt gấc, không dùng bất kì một hóa chất nào, không cần dùng chất bảo quản gì hết, toàn nguyên chất”. 
 
 
 Bà chủ cơ sở sản xuất chè lam Hiền Bao.

Tại các cơ sở sản xuất đều có dịch vụ trải nghiệm làm chè lam thủ công. Du khách có thể tự tay làm ra món chè lam dưới sự hướng dẫn của chủ quán. Giá 1 kg chè lam khoảng 50 nghìn đồng, chè lam gấc khoảng 60 nghìn đồng. Du khách ra về ai cũng mua ít chè, ít kẹo làm quà quê đem về thủ đô mời bạn bè, biếu ông bà, cha mẹ. 

Tuy là nghề gia truyền, mỗi cơ sở sản xuất lại có bí kíp làm chè lam riêng, nhưng họ đều mong mỏi con cháu họ và du khách muôn nơi đều biết đến chè lam và cách làm chè lam truyền thống. Họ cũng mong rằng cơ quan nhà nước quan tâm hơn nữa, để cái nghề còn mãi.  
Bài và ảnh: Hoài Lê