$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ năm, 16-11-2017 | 14:13GMT+7

Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề Việt Nam: Những con số đáng báo động

TBV - Theo Báo cáo môi trường quốc gia, chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn, khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe. Trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất. Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy, 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ.
Theo thống kê, nước ta có trên 5.000 làng nghề và làng có nghề. Hoạt động sản xuất trong các làng nghề đã và đang có nhiều đóng góp vào ổn định đời sống người dân và phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm cho hơn gần 13 triệu lao động trong. Tuy nhiên, phần lớn các làng nghề chưa có quy hoạch hợp lý, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khu dân cư, công nghệ lạc hậu và thiếu ổn định, đã và đang gây ra những vấn đề môi trường trầm trọng, gây ô nhiễm môi trường nước, không khí và đất cũng như tác động trực tiếp tới sức khỏe của dân cư tại làng nghề.

Một số báo cáo khảo sát vừa qua cho thấy, trong 52 làng nghề điển hình hiện nay đã có 53,8% số làng nghề có môi trường ô nhiễm nặng, 27% ô nhiễm vừa và có 19,2 ô nhiễm nhẹ. Đối với môi trường nước, các nhóm làng nghề đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước. Do các làng nghề cần sử dụng một lượng lớn nước cho quá trình sản xuất và chế biến, đồng thời thải ra một lượng lớn chất hữu cơ cũng như các tạp chất khác nên, nước thải từ  các làng nghề không những có lưu lượng lớn mà còn có nồng độ ô nhiễm khá cao, trong đó chủ yếu là chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng. Đáng báo động là thực trạng ô nhiễm nguồn nước tại các làng nghề Việt Nam ngày càng có xu hướng tăng theo thời gian và nghiêm trọng. 
 

Ô nhiễm nguồn nước ở các làng nghề nông thôn Việt Nam là do các hợp chất  vô cơ độc hại như acid, bazo, muối, kim loại nặng… thường thấy ở các làng nghề cơ khí, mạ, đúc, tẩy nhuộm…gây ảnh hưởng tới nguồn nước ngầm, gây nhiều bệnh hiểm nghèo cho các người dân lân cận. 

Đơn cử như: Làng nghề Vân Chàng ở Nam Định có 14 bể mạ, hàng ngày thải trực tiếp ra sông Vân Chàng 40-50m3 nước thải chưa được xử lý, chứa nhiều hóa chất độc hại nguy hiểm như HCL, NaOH, Cr hay HCN… Kết quả phân tích nước thải cho thấy hàm lượng Cr6+ vượt 1,8 lần, Cu2+ vượt 1,7 lần, BOD và COD vượt TCCP 3- 4 lần, Niken vượt 8 lần, đặc biệt hàm lượng CN- trong nước thải vượt 65- 117 lần...

Làng nghề giấy tái chế Phong Khê, Bắc Ninh hằng ngày thải ra môi trường khoảng 5.000m3 nước thải chứa nhiều độc tố gây ô nhiễm môi trường nước mặt. Trong đó có nhiều loại độc tố có hàm lượng cao gấp hàng chục lần tiêu chuẩn cho phép, như: hàm lượng chất rắn lơ lửng cao hơn từ 4,5 đến 11 lần; COD cao hơn từ 8 đến 500 lần; Pb cao hơn 5,5 lần… Cùng với đó, các làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp như làng nghề tái chế sắt thép Đa Hội, đồ gỗ mỹ nghệ Đồng K, giấy Phú Lâm... góp một lượng lớn nước thải không qua xử lý xả thẳng vào hệ thống thủy nông. 

Làng nghề sản xuất bún, bánh và dịch vụ xóm Chùa (xã Phú Nham, huyện Phù Ninh, Phú Thọ) có 70 hộ làm nghề, trong đó có 24 hộ làm bún, bánh. Số hộ tham gia sản xuất không nhiều nhưng do quy trình sản xuất còn lạc hậu, nước thải với hàm lượng tinh bột lớn không được xử lý triệt để khiến môi trường xung quanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng. 

Còn ở làng nghề làm bánh đa Tống Buồng (Hải Dương), từ nhiều năm nay, toàn bộ nước thải sau khi sản xuất bánh đa không qua xử lý được thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung của làng. Qua phân tích môi trường nước mặt của Trung tâm Quan trắc và Phân tích môi trường tỉnh Hải Dương cho thấy hàm lượng COD vượt từ 12-15 lần, TSS vượt từ 2-3 lần, Coliform vượt từ 11-19 lần, Amoni vượt từ 12-16 lần, Photphat vượt từ 26-31 lần tiêu chuẩn cho phép.

Theo các chuyên gia, trước hết cần tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ nguồn tài nguyên nước. Cụ thể là, chú trọng công tác truyền thông về xử lý nguồn nước thải tại các làng nghề trên các phương tiện thông tin đại chúng như phát thanh, truyền hình, đặc biệt là trên loa phát thanh của xã, thôn. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào hoạt động xử lý nước thải tại các làng nghề; có cơ chế hỗ trợ, ưu đãi vốn đầu tư của địa phương vào hoạt động xử lý nước thải tại các làng nghề. Nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy và hướng dẫn thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề, chú trọng xây dựng những quy định, tiêu chuẩn cụ thể về môi trường cho các nhóm làng nghề...
 
Vũ Dung - Thanh Tâm