$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ năm, 10-05-2018 | 13:55GMT+7

Chuyện về ông tổ nghề in

TBV - Là một danh nhân nổi tiếng của đất Hải Dương thế kỉ XV, Thám hoa Lương Như Hộc không chỉ là người học rộng, hiểu sâu mà ông còn là người có tâm và tình yêu đối với nghệ thuật in khắc của dân tộc.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư và một số thư tịch cổ còn lại có ghi rất rõ Lương Như Hộc, có tài liệu còn ghi là Lương Nhữ Hộc (1420- 1501) người xã Hồng Liễu huyện Thường Tân xưa, nay là thôn Thanh Liễu, xã Tân Hưng, Tứ Lộc (Hải Dương). Ông làm quan thời Hậu Lê. Là người hai lần làm sứ giả sang Trung Quốc và đã có công truyền lại nghề khắc bản gỗ in cho dân làng Liễu Tràng, Hồng Lục (nay là Gia Lộc, tỉnh Hải Dương) và được tôn xưng là “ông tổ nghề khắc ván in”. 

Thuở nhỏ Lương Như Hộc là người nổi tiếng thông minh, học giỏi, hiếu thảo. Năm 23 tuổi, ông thi đỗ Thám hoa khoa Nhâm Tuất năm 1442, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 đời Lê Thái Tông. Lương Như Hộc không chỉ làm quan, ông còn là một nhà văn có nhiều tác phẩm để đời như: Cổ kim chế từ tập và Hồng Châu quốc ngữ thi; trong bộ sách Toàn Việt thi lục do Lê Quý Đôn soạn có 6 bài thơ của ông. Theo nhiều người dân làng Liễu Tràng nay là xã Tân Hưng, còn lưu truyền một câu chuyện về vị sư tổ nghề in này. Theo đó, thế kỉ trước dân ta theo học chữ Nho, sau đó chuyển sang chữ Nôm dùng và coi là thứ chữ phổ biến nhất lúc bấy giờ. Thời đó, nước ta các sách vở còn bị các nước phương Bắc chèn ép và bị lệ thuộc rất nhiều. Nhân một hôm, Lương Như Hộc đi lên kinh đô có một người bạn thân của mình nhờ mua hộ mấy quyển sách. Nhưng sách ở các cửa hàng đều hết cả. Đi nhiều quán không tìm đâu lấy được một quyển sách. Có nơi, mua sách mà giá rất cao. 
 

Một số bản khắc in còn giữ lại trong các đình, chùa ở Hải Dương, Bắc Giang do bàn tay tài hoa của những người thợ làng Liễu Tràng làm.
 

Tìm hiểu về vấn đề, Lương Như Hộc mới biết các sách đều được nhập từ Trung Hoa, một số thương buôn tự ý hét giá và đều làm cao. Biết được tỏ tường sự việc, Lương Như Hộc lấy làm rất buồn. Về nhà, Lương Như Hộc rất muốn có một lần qua bên Trung Quốc để tìm hiểu về nghề in ấn khắc gỗ. Với tâm niệm, không để nước lớn chi phối việc in ấn, phát hành sách của Việt Nam. Năm Kỷ Tỵ (1449), thời vua Nhân Tông, bấy giờ Lương Như Hộc làm An Phủ sứ lộ Quốc Oai. Trong đợt xét đặt quan chức năm này, ông được bổ nhiệm cùng với Nguyễn Như Đổ đi sang sứ nhà Minh. Đúng như niềm mong mỏi bấy lâu, sau khi sang sứ nhà Minh, ông có dịp tiếp cận với nghề in khắc của nước bạn. Xung quanh việc Lương Như Hộc đi sứ sang Trung Quốc cũng có rất nhiều giai thoại nói đến ông học được nghề khắc in của Trung Quốc. Sách “Việt Nam danh nhân từ điển” có chép Lương Như Hộc sau khi sang sứ đã tìm cách mua chuộc các lính canh, giám hộ đoàn sứ thần. Từ đó, ông thường lui tới các ngôi chùa có thợ khắc làm việc, xem cách thức khắc bản in ra sao. Năm Kỷ Mão (1459), Lương Như Hộc lại được sang sứ lần hai và lần này, ông còn giả làm thương nhân, đến Bắc Kinh mở hiệu buôn bán ngay cạnh một nhà in để rồi bí mật xem công đoạn của nhà in này. Sau đó, ông trở về nước. Sách “ Đại Nam dư địa chí ước biên”, có đoạn ghi “Liễu Tràng, Hồng Lục, quan Thám hoa thành thầy dạy khắc ván in”, chính là nói về Lương Như Hộc. Sau khi học được nghề khắc mộc bản ấy, về nước, Lương Như Hộc liền truyền nghề cho người làng mình. Sau này, để nghề in có cơ hội phát triển, Lương Như Hộc đã dày tâm truyền nghề cho các thợ, chỉ bảo họ từng li từng tí… Nhờ đó, nghề khắc bản in mộc bản dần dà trở nên đắc dụng ở quê ông.
 

Thám hoa Lương Như Hộc

Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chữ quốc ngữ dần thay thế chữ Nho và chữ Nôm. Sẵn tay nghề khắc chữ, thợ làng chuyển sang nghề khắc dấu mộc, dấu đồng và truyền nghề này đi khắp nước. Trong một thời gian dài ở đâu có nghề khắc dấu thì ở đó có thợ Liễu Tràng. Bấy giờ, ngoài dòng tranh dân gian Đông Hồ và tranh Hàng Trống, thợ Liễu Tràng còn sáng tạo ra dòng tranh khắc ván gỗ. Năm 1908-1909 một học giả Pháp tên là Henri Oget đã mời các nghệ nhân nơi đây làm bộ sách có tên” Bách khoa kỹ thuật văn hóa vật chất của người Việt Nam”. Bộ sách đồ sộ in trên khổ lớn gồm 700 trang với 4.000hình vẽ từ khắc gỗ miêu tả toàn bộ hoạt động của người Việt từ công cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt và nghề nghiệp, đến các thú vui chơi, giải trí. Cũng bởi được truyền nghề quý, kiếm sống được và truyền đời này qua đời khác, mà như “Hải Dương địa dư” cho hay, “đến nay, dân hai xã đó còn thờ ông làm Tiên sư”, tức là dân Liễu Tràng, Hồng Lục. Nhờ được truyền nghề ấy, dân Liễu Tràng, Hồng Lục nhiều thợ sành nghề lắm. Để ghi nhận công lao, dân làng Liễu Tràng đã lập đền thờ, tôn ông làm Thành hoàng và coi là tổ nghề của họ. Hiện nay vẫn còn ngôi đình thờ Thám hoa ở làng Liễu Tràng, đã được xếp hạng năm 1992, thường tổ chức lễ hội vào ngày 13-15 tháng 9 (âm lịch) hàng năm.
Bài và ảnh Long Vũ