$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ năm, 29-11-2018 | 10:00GMT+7

Đi tìm chân chỉ quai thao

TBV - Đi xem rước kiệu Thánh ở lễ hội truyền thống, hay đi lễ ở Đình, Chùa, Đền, Miếu, các khu di tích lịch sử văn hoá… Thường thấy những chiếc Lọng, Tàn, Tán, những tấm Bành voi, Bành ngựa những tấm y môn, cửa võng… Đều dùng những tấm chân chỉ hạt bột, hoặc chân chỉ quả chữ Thọ là tấm dường tết hình mắt võng bằng chỉ màu, có tua và kết hạt cườm ngũ sắc được đính vào mép ở phần bên dưới, để trang trí làm đẹp ý Thần và thêm phần trang nghiêm. Chính những tấm chân chỉ hạt bột này sau được dùng làm câu thành ngữ để chỉ những người làm ăn chăm chỉ thật thà, chân chính.
Khi biết tôi có ý định tìm hiểu về những tấm chân chỉ hạt bột và những chiếc quai thao làm duyên cho chiếc nón ba tầm của các liền chị kinh Bắc trong các lễ hội hay trên sân khấu biểu diễn đã làm say lòng những ai yêu thích các làn điệu dân ca quan họ Bắc Ninh. Anh bạn tôi liền mách: Mời em đến làng Triều Khúc, anh sẽ giới thiệu cho em một gia đình có nhiều thế hệ được phong danh hiệu Nghệ nhân, chuyên làm các sản phẩm truyền thống như: Chân chỉ hạt bột, quai thao, quân hàm, cầu vai, dây chiến thắng cho cục quân nhu…

Khi chúng tôi đến ngôi nhà ấy, người ra mở cổng đón chúng tôi là chị chủ nhà khoảng chừng 65 tuổi, dáng người nhỏ nhắn nhanh nhẹn, nước da trắng hồng, khuôn mặt bầu bĩnh, nụ cười đôn hậu. Tôi buột miệng khen: Lúc trẻ chắc chị phải được mệnh danh là hoa khôi ấy nhỉ? Chị cười nhẹ và dẫn chúng tôi đi vào con ngõ nhỏ bên trên có giàn hoa giấy, hoa chuông rất đẹp. Phía bên dưới là các loại hoa khác nhau như: Hoa hồng, hoa đỗ quyên, hoa sim, hoa râm bụt các màu, hoa sứ, hoa trạng nguyên và đặc biệt là cả một giàn hoa phong lan được treo trên mái vòm rất đẹp. Qua bàn tay chăm sóc của chị, chúng thi nhau khoe sắc tỏa hương. Này đây là Phong Lan, Giả Hạc, Giò kia là Kiều Đạm Thanh, đây là Lan Hoàng Thảo Phi Điệp, Vảy Rồng… Giò nọ trên giò kia dưới một dàn tưới nước tự động thành những hạt nhỏ như sương mù. 
 

Nghệ nhân Tạ Thị Vĩnh đang làm chân chỉ quai thao bằng phương pháp thủ công truyền thống.

Đến khoảng sân rộng được lát gạch bát đỏ au, giữa sân là hòn non bộ với dáng sư tử hồi đầu có những gốc sanh cổ thụ, được uốn tỉa công phu với những tán lá tựa như chiếc đĩa màu xanh. Đàn cá nhỏ và hai chú rùa bơi lượn tung tăng trong bể nước. Một cây hương thờ Đức phật A Di đà bằng gỗ sơn mài phủ vàng kim đứng uy nghi trước ngôi nhà cổ 5 gian thật yên tĩnh. Gian giữa là ban thờ gia tiên, bên trên sát với nóc nhà là bức hoành phi chữ Hán viết theo lối chân thư “Di Đa Phúc” có nghĩa là để lại nhiều phúc cho con cháu. Trên ban thờ tam cấp các loại đồ thờ có đủ kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tượng trưng cho ngũ hành. Bên dưới kê sập gụ tủ chè, đúng theo phong cách thờ cúng tổ tiên truyền thống của người Việt.

Chị chủ nhà ngồi tiếp chúng tôi ở gian bên trái, nơi có bộ bàn ghế bằng gỗ gụ, nhìn sang bên phải là khoảng 30 - 40 chiếc đồng hồ quả lắc cổ được treo ngay ngắn trên tường, chiếc nọ nối tiếp chiếc kia, đang thi nhau thánh thót ngân nga đổ chuông. Theo như chị giới thiệu thì đó là sở thích sưu tầm đồng hồ quả lắc cổ của anh nhà.

Biết tôi muốn tìm hiểu về nghề truyền truyền thống của gia đình. chị vui vẻ, hồ hởi kể cho chúng tôi nghe về cái nghề đã là niềm tự hào của quê hương Triều Khúc và của gia đình chị.

Năm hai mươi lăm tuổi chị về làm dâu nhà anh, lúc đó chị đang làm công nhân ở nhà máy dệt 8/3 (bộ công nghiệp nhẹ). Mấy năm sau, thương chị vất vả, đi làm lại xa, anh nhờ bạn bè xin cho chị về làm văn thư ở xí nghiệp nhạc cụ Bộ Văn hoá. Lần lượt 3 đứa con ra đời (gái đầu, trai giữa và gái út) trong vòng tay yêu thương ấm áp của gia đình. Các cháu đều học giỏi, chăm ngoan. Là nguồn động lực của anh chị trong những năm khó khăn thời bao cấp.
 

Ngoài giờ làm việc ở cơ quan về nhà, chị cùng các con học và làm thêm nghề dệt quai thao với mẹ chồng, chị kể: mẹ chồng chị là nghệ nhân Nguyễn Thị Dằng, là con gái của cụ Nguyễn Hữu Dị. Người đã từng được nhà nước phong kiến tặng thưởng huy chương: “Nam Long Bội Tinh” về các sản phẩm thủ công nghệ vô cùng tinh xảo. Cụ được ông Hoàng Trọng Phu (lúc ấy là tổng đốc Hà Đông) rất quý và nể trọng. Những sản phẩm dệt thủ công mỹ nghệ của Cụ Dị đã được mang đi dự đấu xảo tại Thành phố Mạc xây nước Pháp vào những năm đầu của thế kỷ 20. Tới năm 1957 Cục Quân nhu Quân đội nhân dân Việt Nam đặt cụ làm các loại quân hàm, cầu vai, dây chiến thắng bằng tơ bóng Raion phục vụ cho sĩ quan trong quân đội. Sau nhiều ngày nghiên cứu, cụ đã tìm ra cách nhuộm màu giả đồng không phai (vì lúc đó ở ta chưa có kim tuyến). Sau khi thành công, cụ nhân rộng ra cho cả làng cùng làm. Riêng quân hàm, cầu vai cấp tướng vì cách dệt vô cùng phức tạp nên chỉ người trong nhà như: Bác cả Dùng, mẹ Dằng và anh Trí mới dệt được. Năm 1964, sau khi mất cụ Nguyễn Hữu Dị đã được truy tặng danh hiệu nghệ nhân, cụ là nghệ nhân đầu tiên của thành phố Hà Nội.

Mẹ Nguyễn Thị Dằng sau này được cả làng Triều Khúc gọi bằng cái tên trìu mến là cụ Trí Đằng. Cụ được thừa hưởng nhiều bí quyết trong nghề truyền thống của gia đình, những chiếc quai thao được đan, tết bằng tay tinh xảo và đẹp mắt, những tấm chân chỉ hạt bột, chân chỉ quả chữ thọ, loại hàng kỹ để đính vào y môn, vào tàn, vào tán là những đồ thờ trong các Đình, Chùa, Miếu mạo. Bởi vậy các nhà làm đồ thờ cúng có tiếng ở phố hàng Quạt, hàng Bông, hàng Gai… đều phải vào Triều Khúc đặt hàng của cụ Trí Đằng.

Có một câu chuyện khá thú vị: Khoảng năm 1984 có ba cụ ở làng Giang Xá, thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức tìm về Triều Khúc để gặp cụ Trí Đằng. Ba vị khách này mang một tay nải nhỏ, khi mở ra là hai tấm chân chỉ bành voi đã xơ xác và bạc màu. Cụ Trí Đằng cầm xem và bảo: Đây chính là hàng của tôi làm cách đây chừng 40 năm, lúc ấy tôi còn là con gái. Cụ gỡ hết các hạt bột của tấm chân chỉ bành voi cổ ra từng chiếc bát, màu nào để riêng màu ấy. Hạt bột xưa, là những hạt hình trụ nhỏ hơn hạt ngô, bằng gốm và cũng chỉ có ba màu: đen, trắng và nâu. Xưa các cụ không dùng hạt cườm nhiều màu sặc sỡ như bây giờ. Sau đó cụ tìm tơ tằm nguyên chất, rồi se kết lại để tết thành “Dường”. Đó là tấm tơ tằm nõn màu vàng nguyên khai được tết thắt lại như mắt võng. Trên đó lại được đính các hạt bột ba màu xen kẽ để tạo thành một kết cấu thưa mà chắc chắn. Phía dưới “Dường” là các quả chữ thọ nổi ngũ sắc có tua, tạo thành tấm chân chỉ đẹp lung linh, nền nã mà không sặc sỡ, bởi các hòa sắc xanh đỏ được “chắc” lại vì các hạt cườm đen, trắng và nâu, khiến cho thị giác như được hài hòa giữa các sắc màu rực rỡ, bắt mắt, lại mang nhiều hơi thở của hồn dân tộc.

Một tháng sau ba cụ ở Giang Xá xuống nhận hàng. Các cụ ngỡ ngàng với tấm chân chỉ được làm y chang như cũ, nhưng lại đẹp và tinh xảo hơn nhiều. Khi làng Giang Xá mở hội, dân làng được ngắm nghía tấm chân chỉ bành voi mới, ai cũng tấm tắc khen đẹp. Các cụ Giang Xá đã tận tay mang biếu cụ Trí Đằng hai chiếc bánh “Bác”. Loại bánh này dân làng chỉ làm trong những ngày lễ hội để dâng lên ban lễ Đức Thành Hoàng. Sau đó, mỗi cụ cao niên chỉ được làng chiếu lộc một khoanh bánh “Bác” bằng cỡ khoanh giò, đó là lộc thánh. Bánh “Bác” là loại bánh đặc sản của làng Giang Xá được làm bằng bột nếp xay mịn, trộn với nước lá gai để tạo thành màu đen, màu đỏ của trái gấc và màu vàng của đậu xanh say nhuyễn. Ba loại bột này được hấp chín, tãi mỏng ra xếp chồng lên nhau rồi cuộn tròn lại và gói bằng lá chuối tươi. Thoạt nhìn thì giống như chiếc giò lụa, khi xắt ra miếng bánh có ba màu: vàng, đỏ và đen. Bánh Bác được bày trên chiếc đĩa sứ trắng muốt, vừa thơm ngon lại mang ý nghĩa tâm linh, nên bánh được dân làng Giang Xá đặc biệt trân quý.

Cụ Trí Đằng là người được cả dân làng quý trọng, cụ cũng nổi tiếng là đắt hàng nhất làng triều khúc, khách hàng ai cũng thích tìm gặp tận nhà cụ để đặt mua hàng kỹ, vì hàng của cụ làm đẹp và rất có hồn. 

Tôi ngỏ ý muốn được tìm hiểu về quy trình dệt quai thao, thì chị đi vào buồng và bê ra những thứ đồ nghề, dụng cụ và các cuộn tơ tằm đã được nhuộm màu. Dụng cụ dệt thao gồm có hai phần: Phần dưới là cái giỏ tre có miệng cao chừng 50cm, phần trên nắp làm bằng gỗ tiện tròn, đậy khít vào miệng giỏ và hơi loe ra một chút. Chiếc bàn thao rộng khoảng 15cm, chính tâm bàn thao gắn cố định một chiếc kim, nhỏ bằng chiếc nan hoa xe đạp, cao chừng 10cm gọi là cọc thao. Sát cọc thao được khoan một lỗ thủng đường kính chừng 1cm. Sợi lõi dây thao to như chiếc đũa được chập nhiều sợi, cuộn thành lọn rồi để vào trong giỏ thao. Một đầu sợi lõi chui qua lỗ trên mặt bàn thao rồi kéo lên trên. Xung quanh cọc thao có 16 quả chỉ cuộn tơ tằm gọi là quả thao. Chị để bàn thao trước mặt, hai tay lùa hất những quả thao theo quy luật đan tròn, khiến cho sợi tơ đan dệt chéo nhau thành hình chữ nhân để tạo thành vỏ ngoài ôm chắc lấy sợi lõi bên trong. Quai thao có hai loại: Loại nhuộm màu đen huyềndùng cho các bà các chị, loại màu trắng ngà nguyên khai của tơ tằm dùng cho các cô gái còn son. Quai thao có hai dây gọi là quai kép, nhiều đoạn được tết thắt lại tạo thành họa tiết vừa đẹp mắt, vừa làm cho dây thao thêm chắc chắn. Mỗi bên đầu quai thao có hai quả cù to bằng ngón tay cái, được đan móc công phu rồi rủ xuống thành tua dài khoảng 30cm. Quả tua được cắt bằng, có thể để song song hoặc so le tùy ý người dùng. Công đoạn cuối là đính quai thao vào nón thúng. Chị đưa tôi đội thử, những chiếc tua rua chạm vào bờ vai làm tôi hình dung ra các bà, các chị, các cô trong tà áo tứ thân đội chiếc nói thúng quai thao làm tăng thêm vẻ đẹp đài các và duyên dáng biết bao:

Ai làm nón thúng quai thao
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh
(Ca dao cổ)

Chị cho biết: Những năm gần đây, các nhà làm dây thao hàng chợ, họ đã đầu tư làm bằng máy móc, năng suất cao hơn nhưng độ bền đẹp và tinh xảo thì rất kém. Riêng gia đình chị vẫn giữ nguyên nếp cũ là làm bằng tay. Thoáng nét buồn trên khuôn mặt chị nói: “Nghề này dần mai một bọn trẻ chúng bảo không sống được bằng nghề nên chúng không làm”. Thi thoảng chị cũng nhận được hợp đồng của các hội chợ hoặc triển lãm trưng bày bán sản phẩm của mình và các đoàn văn công dân ca quan họ đến đặt hàng của chị. 
Kim Oanh
(Ghi theo lời kể của nghệ nhân Tạ Thị Vĩnh)