$(document).ready(function () { $(".validate").validationEngine(); });
Thứ năm, 11-10-2018 | 14:11GMT+7

Nghệ nhân nhân dân Lê Văn Kinh: Người thổi hồn xứ Huế vào tranh thêu

TBV - Nghệ nhân Lê Văn Kinh (SN 1931) năm nay đã gần 90 tuổi. Ông cũng là người được xem như bậc thầy của nghề thêu xứ Huế hiện nay.
Người làm rạng danh nghề thêu xứ Huế

Lớn lên trong một gia đình có ông nội và cụ thân sinh làm nghề thêu, từ bé, đường kim, mũi chỉ đã thấm đẫm vào trong ông, để trót mang lấy nghiệp cho đến bây giờ. Cụ thân sinh ông là Lê Văn Hỡi từng thêu áo Hoàng bào cho vua Khải Định mặc trong lễ “Tứ tuần đại khánh” (lễ lúc vua 40 tuổi), và thêu “Thất sư khí cầu” (tức 7 con sư tử đùa với quả cầu) dâng vua, thêu khăn phủ trên đôn để lư đồng trước ngai vua. Riêng bức “Thất sư khí cầu” hiện ông còn lưu lại được một bức, như vật gia bảo của gia đình. 

Năm lên 10 tuổi, ông Lê đã thêu được bức tranh “Tùng, hạc”, với đường nét sắc sảo, lưu giữ cho đến bây giờ. Sau giải phóng miền Nam, từ năm 1975, ông đã đứng ra thành lập Hợp tác xã thêu Cẩm Tú, thu hút 150 lao động vào làm nghề thêu. Những năm sau đó, do yêu cầu của địa phương, ông vào làm ở ngành ngoại thương, lại dạy nghề, mở các cơ sở thêu ở Phú Lộc, Hương Phú, Quảng Điền, Hương Điền, Triệu Hải. Sản phẩm thêu từ đó đi các nước Đông Âu, Liên Xô, với các loại sản phẩm khăn trải giường, áo gối, và sau này là áo Kimônô xuất sang Nhật Bản. Suốt thời gian ấy, ông đã dạy và truyền nghề cho hơn 100.000 người. Nhiều người trong số đó, bây giờ trở thành thợ lành nghề, tài hoa của thành phố Huế và nhiều địa phương khác trong vùng. 
 

Nghệ nhân nhân dân Lê Văn Kinh
 
Theo Nghệ nhân Nhân dân Lê Văn Kinh, để có một bức tranh đẹp, trước hết ông phải vẽ một tác phẩm tranh thật đẹp. Rồi sau đó, dùng mũi kim bằng sắt thêu lên trên những đường nét đó. Bí quyết của công việc là làm sao cho bức tranh có hồn. Những bức tranh ông Kinh đã thêu đa số là hình ảnh của quê hương đất nước, như bức tranh thêu Sông Hương núi Ngự, Chùa Thiên Mụ, Đêm trăng Vĩ Dạ, Cầu Tràng Tiền... Do vậy, bạn bè, đồng nghiệp gọi ông là người thổi hồn đất nước vào tranh thêu.

Hiện nay, Nghệ nhân Nhân dân Lê Văn Kinh là chủ cửa hiệu thêu Đức Thành ở 82 Phan Đăng Lưu, thành phố Huế. Cửa hiệu của ông hiện có hàng ngàn mẫu bức tranh thêu, về hình ảnh quê hương, đất nước, cảnh sông Hương, núi Ngự, cầu Tràng Tiền, chùa Thiên Mụ, Đại Nội, hay hình ảnh một con đò, bến nước, đêm trăng Vĩ Dạ, hoặc hình ảnh về bà mẹ, con người Việt Nam, để được sở hữu một bức tranh như vậy, người đi xa luôn vời vợi nhớ trông quê. 

Năm 2011, ông được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam (Vietking) trao chứng nhận kỷ lục Việt Nam cho bộ tranh thêu bài thơ “Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác thiền sư, bằng nhiều thứ tiếng nhất (14 thứ tiếng), mỗi bức được ông thêu một nét chữ, màu chỉ khác nhau. 
 

Tranh thêu của Nghệ nhân Nhân dân Lê Văn Kinh được trưng bày khắp phòng.

Khát khao truyền nghề cho thế hệ trẻ

Để có thành công như ngày hôm nay, Nghệ nhân Nhân dân Lê Văn Kinh luôn rèn luyện tài năng và tâm sáng. Tâm sáng, lòng trong mới nắm được cái hồn trong từng bức tranh thêu. Sự cần mẫn của đôi tay, sáng tạo sẽ tạo nên những bức tranh thêu hoàn mỹ nhất. Cũng vì lẽ đó, tất cả những tác phẩm thêu của ông luôn có những nét riêng, độc đáo, khác lạ, và chứa đựng cả tấm lòng của ông gửi gắm vào đó. 

Mỗi góc phố, hàng cây, bến nước, sân đình... những hình ảnh của quê hương, đất nước khi được đưa vào trong tác phẩm tranh thêu của nghệ nhân nhân dân đều trở nên sinh động và hấp dẫn vô cùng. Đó là lý do vì sao cửa hàng tranh thêu Đức Thành luôn luôn đông khách trong và ngoài nước.
 

Ngày nay, tuy tuổi đã già nhưng hàng ngày ông Kinh vẫn miệt mài bên khuôn tranh thêu với học trò yêu quý của mình. Ông muốn truyền lại cho các học trò của mình những kỹ năng thêu tranh mà suốt một cuộc đời của mình ông chắt lọc được. Ghi nhận công lao to lớn của ông đối với việc bảo tồn nền văn hóa dân tộc, mới đây, ông vinh dự được đón nhận danh hiệu Nghệ nhân cao quý do Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam trao tặng vì đã “có công lao giữ gìn, thực hành truyền dạy những giá trị, kỹ năng bí quyết về văn hóa để làm cho những giá trị tinh hoa trong văn hóa của dân tộc Việt Nam được sống mãi”.   

Chia sẻ với chúng tôi, ông tâm sự: “Trong suốt cuộc đời của mình, tôi hạnh phúc nhất là đã đào tạo ra được hàng vạn thợ thêu sống nổi với nghề thêu tranh nghệ thuật này”.

Sở hữu những báu vật có “một không hai”

Không chỉ là một Nghệ nhân tài hoa, ông hiện còn là chủ sở hữu của những bảo vật gia truyền “Cành vàng lá ngọc” (Kim chi ngọc diệp), và bộ ấm trà vài trăm năm tuổi. Ông cho biết những cổ vật này vẫn còn nguyên vẹn đến gần 100% với đầy đủ các chi tiết của một cổ vật xưa trong cung cấm. 

Tác phẩm “Kim chi ngọc diệp” có thân cây bằng vàng mạ đặc tả theo dáng cây mai, chiều cao hơn 40cm, gồm hơn 20 cành vàng; hơn 10 lá ngọc... được kết nối xuyên qua thân cây, hoặc treo lên cành bằng những sợi chỉ vàng. 

Cùng với cành vàng lá ngọc, tác phẩm còn có hàng chục “hạt” mai bằng hồng ngọc, huyền ngọc, thanh ngọc, bích ngọc và những “trái cây” cách điệu tạo thành những khối ngọc hoàn chỉnh móc dọc theo thân cây. 

Toàn bộ tác phẩm “cành vàng lá ngọc” này được đặt trong chiếc chậu lung cao hơn 50cm dưới dạng bon sai. Theo các nhà chuyên môn, tác phẩm “cành vàng lá ngọc” này là tác phẩm thứ ba đang có ở Huế, sau hai cổ vật khác đang được trưng bày tại Đại nội Huế (do Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế quản lý). Cổ vật này có tuổi đời hơn 100 năm, do ông ngoại của ông là Tham tri bộ lễ Nguyễn Văn Giáo (hiệu Chí Thành, một vị quan triều Nguyễn) - tặng ông từ lúc ông còn nhỏ. Đây là món quà do chính vua Khải Định ban tặng cho vị quan này khi ông còn tại vị trên ngai vàng. 

Riêng chiếc ấm trà chất liệu bằng đất nung, hình dạng trông giống như lá gan của gà, nên còn có tên gọi nôm na là ấm gan gà. Dưới đáy có khắc 4 chữ: Tuyên Đức tinh chế. 

Nghệ nhân Nhân dân Lê Văn Kinh cho biết: Đây là một trong 12 chiếc ấm được sản xuất dưới triều vua Tuyên Đức, một vị vua đời Đường ở Trung Quốc, được đưa đến Việt Nam cách đây trên 500 năm. Tồn tại với khoảng thời gian dài như vậy, và đã qua bao đời sử dụng, nhưng chiếc ấm không hề bị sứt mẻ, hoặc có vết xước nào. Đây cũng chính là những báu vật được vua Khải Định ban tặng cho ông ngoại, mà ông là người cháu được tin tưởng và trao gửi lại.
Bài và ảnh: Hoàng Vũ